Thủ tướng phê duyệt Chương trình phát triển Chính phủ số đến năm 2030

Ngày 1/12/2025, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 2629/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển Chính phủ số.


 

Phát triển dữ liệu trở thành tài nguyên chiến lược, nền tảng của Chính phủ số

Quyết định nêu rõ quan điểm của Chương trình phát triển Chính phủ số (Chương trình) là phát triển các dịch vụ số bao trùm, rộng khắp dựa trên nguyên tắc lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể, đối tượng phục vụ, đồng sáng tạo các dịch vụ số. Lấy người dùng làm trung tâm với hệ sinh thái dịch vụ hợp nhất, không ai bị bỏ lại phía sau.

Chuyển đổi số toàn diện trong các cơ quan nhà nước, bảo đảm mọi hoạt động tham mưu, xử lý công việc, quản lý, quản trị nội bộ, lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực; quản trị dựa trên kết quả. Kế thừa kết quả đã có, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, liên thông, chia sẻ dữ liệu, không trùng lặp trong toàn hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp.

Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ trên nền tảng số. Phát triển hạ tầng số, công nghệ số đồng bộ, hiện đại, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí. Hình thành các trung tâm dữ liệu quy mô lớn, theo tiêu chuẩn xanh, bám sát quy hoạch vùng năng lượng. Xây dựng, hoàn thiện các nền tảng số quốc gia và nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực theo hướng phát triển tập trung, thống nhất, dùng chung toàn quốc; bảo đảm tránh trùng lặp và bảo đảm kết nối, liên thông đồng bộ. Các nền tảng số này sẽ được trung ương đầu tư, xây dựng và triển khai đồng bộ, xuyên suốt đến tận cấp cơ sở (bao gồm cấp tỉnh và cấp xã).

Thúc đẩy phát triển dữ liệu mở, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và đổi mới sáng tạo. Phát triển dữ liệu trở thành tài nguyên chiến lược, nền tảng của Chính phủ số. Ưu tiên xây dựng và phát triển các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, cung cấp dịch vụ công, giám sát, dự báo và hoạch định chính sách. Việc xây dựng các cơ sở dữ liệu phải bảo đảm nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung".

Kết hợp nội lực và tận dụng ngoại lực, khuyến khích doanh nghiệp công nghệ số trong nước tham gia phát triển các ứng dụng, dịch vụ số mới theo hình thức hợp tác công tư (PPP) là mô hình, cách làm đột phá trong phát triển nền tảng số quốc gia phục vụ Chính phủ số trong giai đoạn mới; chủ động hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm, tiêu chuẩn quốc tế trong phát triển Chính phủ số.

Vận hành thông minh và tự động hóa trên cơ sở ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI First). Triển khai AI trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình nhằm bảo đảm hiệu quả, chủ động, minh bạch và cá thể hóa trải nghiệm người dùng. Đồng thời, tăng cường ứng dụng AI để thông minh hóa quy trình nghiệp vụ, minh bạch hóa hoạt động và tối ưu hóa nguồn lực trong quá trình ra quyết định, điều hành của các cơ quan nhà nước.

Chương trình đặt mục tiêu chung đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành xây dựng Chính phủ số, hình thành Chính phủ thông minh vận hành trên nền tảng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, hướng tới mô hình quản trị chủ động, dự báo, lấy người dùng làm trung tâm. Các hoạt động cơ bản của cơ quan nhà nước được thực hiện trên các nền tảng số tập trung, thống nhất và liên thông giữa các cấp, các ngành, tạo lập hệ sinh thái số đồng bộ, hiện đại; đồng thời bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và giữ vững chủ quyền số quốc gia. AI trở thành công cụ cốt lõi trong quản trị công, cung cấp dịch vụ công và hỗ trợ ra quyết định chính sách, góp phần nâng cao hiệu quả điều hành và trải nghiệm của người dân, doanh nghiệp.

Cung cấp dịch vụ số bao trùm, thông minh

Một trong những mục tiêu cụ thể của Chương trình là cung cấp dịch vụ số bao trùm, thông minh:

Giai đoạn 2025-2027: 100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình trên tổng số thủ tục hành chính có đủ điều kiện; 100% thông tin, giấy tờ, tài liệu trong các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh chỉ cung cấp một lần cho cơ quan hành chính nhà nước; 95% người dân, doanh nghiệp đánh giá hài lòng khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến.

Giai đoạn 2028-2030, 99% người dân, doanh nghiệp đánh giá hài lòng khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến; 50% dịch vụ công trực tuyến thiết yếu được triển khai ở mức chủ động, được AI hỗ trợ "cá thể hóa", thông báo hoặc gợi ý hành động theo các mốc sự kiện quan trọng trong cuộc đời; 100% cơ quan nhà nước cung cấp dữ liệu mở đúng chuẩn; 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa; 80% thông tin, dữ liệu đã được số hóa trong giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công được khai thác, sử dụng lại.

Cơ quan nhà nước quản lý, chỉ đạo, điều hành thông minh, an toàn dựa trên dữ liệu

Giai đoạn 2025-2027: 100% các nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực phục vụ Chính phủ số được hoàn thành và đưa vào sử dụng thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo đúng kế hoạch; 100% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh, cấp xã được xử lý trên môi trường điện tử (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước) và sử dụng chữ ký số cá nhân để giải quyết công việc; 100% chế độ báo cáo của các cơ quan được thực hiện trên Hệ thống thông tin báo cáo;

100% nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao cho các bộ, ngành, địa phương được theo dõi, giám sát, đánh giá trên môi trường điện tử; 100% bộ, ngành, địa phương đạt cấp độ 3 mức độ trưởng thành về quản trị dữ liệu; 100% cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo kỹ năng số cơ bản; 50% cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin, chuyển đổi số của bộ, ngành, địa phương được đào tạo đạt chứng chỉ quản trị dữ liệu cơ bản.

Giai đoạn 2028-2030: 100% bộ, ngành, địa phương đạt cấp độ 4 và 90% đạt cấp độ 5 mức độ trưởng thành về quản trị dữ liệu; 100% hệ thống thông tin được kết nối, chia sẻ dữ liệu qua dịch vụ chia sẻ dữ liệu; 100% cơ quan, tổ chức sử dụng ít nhất 01 ứng dụng AI để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành; 25% đội ngũ lãnh đạo của từng cơ quan, tổ chức có chuyên môn, kinh nghiệm về khoa học, kỹ thuật, chuyển đổi số phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ;

100% cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin, chuyển đổi số của bộ, ngành, địa phương được đào tạo đạt chứng chỉ quản trị dữ liệu cơ bản; 100% các hệ thống thông tin phục vụ phát triển Chính phủ số phải được phê duyệt hồ sơ đề xuất bảo đảm an ninh mạng theo cấp độ trước khi đưa vào vận hành, sử dụng; được kiểm tra, đánh giá an ninh mạng định kỳ.

9 nhiệm vụ, giải pháp

Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đặt ra 9 nhiệm vụ, giải pháp bao gồm: 1- Hoàn thiện thể chế; 2- Phát triển dữ liệu số; 3- Phát triển các ứng dụng, nền tảng số cho Chính phủ số; 4- Phát triển hạ tầng Chính phủ số; 5- Bảo đảm an ninh mạng; 6- Phát triển nhân lực số; 7- Hợp tác quốc tế; 8- Bảo đảm kinh phí; 9- Đo lường, giám sát, đánh giá triển khai.

Thực hiện số hóa 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính

Về phát triển dữ liệu số, Chương trình tập trung số hóa dữ liệu, khai thác tái sử dụng dữ liệu để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, trọng tâm là lĩnh vực tư pháp, giáo dục, y tế, đất đai.

Thực hiện số hóa 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính; hoàn thành xây dựng, nâng cấp, phát triển các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành bảo đảm dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống thống nhất, dùng chung", kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công.

Xây dựng, ban hành kế hoạch công bố dữ liệu mở cấp quốc gia và tại từng bộ, ngành, địa phương, bao gồm danh mục dữ liệu mở ưu tiên, lộ trình công bố, phương thức truy cập, trách nhiệm cập nhật và tiêu chí đánh giá mức độ sử dụng, tái sử dụng dữ liệu mở. Việc cung cấp dữ liệu mở được thực hiện theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định pháp luật hiện hành.

Xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách cụ thể để các bộ, ngành, địa phương chủ động thực hiện việc chuẩn hóa, mở, chia sẻ và đưa dữ liệu đủ điều kiện lên Sàn dữ liệu, thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường dữ liệu, gắn với cơ chế minh bạch về quyền sở hữu, quyền khai thác, thương mại hóa dữ liệu và phân phối giá trị từ dữ liệu.

Hình thành tối thiểu 03 cụm Trung tâm Dữ liệu quốc gia

Về phát triển hạ tầng Chính phủ số, Chương trình sẽ triển khai xây dựng, phát triển hạ tầng số phục vụ Chính phủ số theo Quyết định số 1132/QĐ-TTg ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược hạ tầng số đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.

Hình thành hạ tầng lưu trữ, tính toán đạt tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn xanh. Phát triển các cụm trung tâm dữ liệu quy mô lớn theo tiêu chuẩn xanh, kết nối và chia sẻ tạo thành mạng lưới các cụm trung tâm dữ liệu nhằm thúc đẩy công nghiệp dữ liệu lớn, trong đó hình thành tối thiểu 03 cụm Trung tâm Dữ liệu quốc gia theo quy định tại Nghị quyết số 175/NQ-CP ngày 30/10/2023 của Chính phủ phê duyệt Đề án Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Xây dựng Trung tâm Dữ liệu quốc gia và nền tảng điện toán đám mây thống nhất, hiệu năng cao để cung cấp tài nguyên tính toán, lưu trữ, sao lưu tập trung và bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu cao nhất cho các hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương và toàn hệ thống chính trị.

Phát triển hạ tầng mạng đáp ứng nhu cầu triển khai Chính phủ số tại bộ, ngành, địa phương theo hướng ưu tiên thuê dịch vụ, kết nối và sử dụng hiệu quả Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước. Phát triển, hoàn thiện Hệ thống chứng thực chữ ký số chuyên dùng công vụ dùng chung cho các cơ quan nhà nước.

Nâng cấp, quản lý, vận hành Nền tảng họp trực tuyến quốc gia thông suốt, an toàn, bảo mật từ trung ương đến địa phương, đáp ứng yêu cầu sử dụng thống nhất trong toàn hệ thống chính trị.

Đưa nội dung đào tạo về kỹ năng số, AI vào chương trình đào tạo quản lý nhà nước ngạch chuyên viên

Về phát triển nhân lực số, Chương trình sẽ xây dựng, cung cấp học liệu để đào tạo, phổ cập kỹ năng số, hướng dẫn người dân sử dụng các dịch vụ số của cơ quan nhà nước cho các đối tượng trên nền tảng bình dân học vụ số.

Bố trí nhân lực chuyên trách công nghệ thông tin, chuyển đổi số; triển khai thực chất, hiệu quả phong trào "Bình dân học vụ số" và hoạt động của các Tổ công nghệ số cộng đồng.

Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ kỹ thuật chuyên biệt và thường xuyên cho đội ngũ cán bộ cấp xã, phường, tập trung vào kỹ năng vận hành các nền tảng dùng chung và kỹ năng hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ số.

Rà soát, cập nhật khung năng lực, chuẩn kỹ năng công nghệ thông tin tích hợp kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Đưa nội dung đào tạo về kỹ năng số, AI vào chương trình đào tạo quản lý nhà nước ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp hoặc tương đương.  

 

BBT

Xem nhiều nhất

Lương cơ sở tăng 8% sẽ làm thay đổi những khoản nào?

Tin trong nước 1 ngày trước

Tại buổi tiếp xúc cử tri ngày 9/3, Phó thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà cho biết Chính phủ dự kiến điều chỉnh lương cơ sở từ 2,34 triệu đồng lên khoảng 2,527 triệu đồng mỗi tháng, tăng thêm 187.200 đồng. Đây là mức lương áp dụng với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đồng thời là căn cứ xác định nhiều chế độ, chính sách trong khu vực công.Các trung tâm phục vụ hành chính công hoạt động hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong giải quyết thủ tục hành chính.Các khoản hưởng tăng theo lương cơ sởKhi lương cơ sở tăng, tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang cũng tăng theo hệ số lương. Nhiều khoản phụ cấp trong khu vực công như phụ cấp chức vụ, khu vực, thâm niên và một số chế độ chính sách liên quan cũng được điều chỉnh tương ứng.Các khoản lương hưu, trợ cấp người có công, trợ cấp bảo trợ xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội cũng sẽ được điều chỉnh khi Nhà nước tăng lương cơ sở và các mức chuẩn trợ cấp liên quan. Mức tăng cụ thể của từng nhóm sẽ được Chính phủ quy định trong phương án điều chỉnh lương hưu và trợ cấp.Một số chế độ bảo hiểm xã hội tính trực tiếp theo lương cơ sở cũng tăng theo. Trợ cấp thai sản một lần với lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi bằng hai lần lương cơ sở tại tháng sinh hoặc nhận con nuôi. Nếu lương cơ sở tăng lên 2,527 triệu đồng, khoản trợ cấp này sẽ tăng từ 4,68 triệu đồng lên khoảng 5,054 triệu đồng cho mỗi con.Trợ cấp mai táng bằng 10 lần lương cơ sở cũng sẽ tăng từ 23,4 triệu đồng lên khoảng 25,27 triệu đồng. Trợ cấp tuất hằng tháng với thân nhân người lao động qua đời bằng 50% lương cơ sở, tương đương hơn 1,26 triệu đồng mỗi tháng; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng 70% lương cơ sở, khoảng 1,77 triệu đồng mỗi tháng.Mức đóng bảo hiểm xã hội tăng theoLương cơ sở cũng là căn cứ xác định mức tiền lương làm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của một số nhóm. Theo Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội thấp nhất bằng lương cơ sở và cao nhất bằng 20 lần mức này.Nếu lương cơ sở tăng lên 2,527 triệu đồng từ ngày 1/7, mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội thấp nhất sẽ là 2,527 triệu đồng mỗi tháng và cao nhất là 50,54 triệu đồng.Đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khu vực nhà nước và lực lượng vũ trang, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm cùng các khoản phụ cấp nếu có. Hiện nay, người lao động thuộc nhóm này đóng 8% tiền lương vào quỹ hưu trí, tử tuất và 1,5% bảo hiểm y tế mỗi tháng.Đối với chủ hộ kinh doanh có đăng ký, người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước và người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cũng được xác định thấp nhất bằng lương cơ sở và cao nhất bằng 20 lần mức này.Bảo hiểm y tế hộ gia đình và công đoàn phí nhích nhẹTiền đóng bảo hiểm y tế hiện bằng 4,5% mức lương cơ sở, lương hưu hoặc trợ cấp thất nghiệp tùy từng nhóm đối tượng. Với bảo hiểm y tế hộ gia đình, người thứ nhất đóng bằng 4,5% lương cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ tư lần lượt đóng bằng 70%, 60%, 50% mức của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40%.Nếu lương cơ sở tăng lên 2,527 triệu đồng từ ngày 1/7, mức đóng bảo hiểm y tế hộ gia đình của người thứ nhất sẽ khoảng 113.715 đồng mỗi tháng; người thứ hai khoảng 79.600 đồng; người thứ ba 68.229 đồng; người thứ tư 56.857 đồng; và từ người thứ năm trở đi khoảng 45.486 đồng.Tính theo năm, người thứ nhất sẽ đóng khoảng 1.364.580 đồng, các thành viên tiếp theo giảm dần, đến người thứ năm còn khoảng 545.832 đồng.Đoàn phí công đoàn hàng tháng hiện bằng 0,5% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội với đoàn viên ở đơn vị sự nghiệp không hưởng toàn bộ lương ngân sách, hoặc bằng 0,5% lương thực lĩnh với đoàn viên trong doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, mức đóng tối đa không vượt quá 10% lương cơ sở.Nếu lương cơ sở tăng lên 2,527 triệu đồng từ ngày 1/7, mức đóng đoàn phí công đoàn tối đa sẽ tăng lên 252.700 đồng mỗi tháng, thay vì 234.000 đồng như hiện nay.BHT.vn🔗Xem link nguồn