Những cơ quan nào đang quản lý an toàn thực phẩm

Việc quản lý an toàn thực phẩm hiện do 3 bộ phụ trách theo từng công đoạn, Chính phủ đang xây dựng đề án thống nhất đầu mối quản lý.

Phát biểu trước Quốc hội ngày 21/4, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết công tác quản lý an toàn thực phẩm hiện do nhiều bộ, ngành cùng phụ trách nên vừa chồng chéo trách nhiệm, vừa tồn tại khoảng trống trong kiểm soát. Vì vậy, Chính phủ đang xây dựng đề án thành lập cơ quan quản lý thống nhất nhằm tập trung đầu mối, khắc phục tình trạng phân tán, nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm tra và xử lý vi phạm.

Theo Luật An toàn thực phẩm 2010, trách nhiệm quản lý nhà nước được phân công cho 3 bộ chính theo từng nhóm sản phẩm và công đoạn. Bộ Y tế quản lý thực phẩm chức năng, phụ gia, nước uống đóng chai và bếp ăn tập thể như trường học, bệnh viện. Bộ Nông nghiệp và Môi trường phụ trách thực phẩm tươi sống, toàn bộ khâu trồng trọt, chăn nuôi, giết mổ, sơ chế ban đầu, đồng thời kiểm soát dịch bệnh, kiểm dịch và điều kiện vệ sinh thú y. Bộ Công Thương quản lý khâu chế biến công nghiệp, lưu thông và phân phối thực phẩm trên thị trường.

Các quy định tiếp tục được cụ thể hóa tại nghị định và văn bản hướng dẫn theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng trách nhiệm của doanh nghiệp. Ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp xã cùng các cơ quan chuyên ngành, lực lượng thanh tra trực tiếp tổ chức thực thi.

Người dân mua sắm tại một siêu thị ở TP Hải Phòng. Ảnh: Lê Tân

Theo chuỗi vận động của thực phẩm, hệ thống quản lý được phân tách theo từng công đoạn. Ở khâu chăn nuôi, ngành nông nghiệp kiểm soát dịch bệnh, cấp giấy kiểm dịch và giám sát điều kiện vệ sinh. Sang khâu giết mổ, trách nhiệm thuộc cơ quan thú y và chính quyền địa phương. Đến khâu chế biến công nghiệp, trách nhiệm chuyển sang ngành công thương, doanh nghiệp phải bảo đảm nguyên liệu đầu vào có nguồn gốc rõ ràng. Ở khâu phân phối, lực lượng quản lý thị trường và chính quyền địa phương kiểm tra hàng hóa lưu thông.

Tại bếp ăn tập thể, đặc biệt trong trường học, ngành y tế là cơ quan quản lý chính, người đứng đầu đơn vị phải chịu trách nhiệm toàn bộ từ lựa chọn nhà cung cấp đến quy trình chế biến.

Trong một tình huống cụ thể như thịt lợn nhiễm dịch xuất hiện trong bếp ăn trường học, trách nhiệm được xác định theo toàn bộ chuỗi. Cơ sở chăn nuôi vi phạm có thể bị xử lý hình sự, cơ quan thú y chịu trách nhiệm nếu để lọt khâu kiểm dịch, cơ sở giết mổ vi phạm khi xử lý động vật không đủ điều kiện. Đơn vị cung cấp thực phẩm phải kiểm soát nguồn gốc, trong khi nhà trường chịu trách nhiệm kiểm tra đầu vào. Các cơ quan quản lý địa phương cũng phải xem xét trách nhiệm thanh tra, giám sát.

Đại biểu Phạm Khánh Phong Lan, Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TP HCM, cho biết khó khăn lớn hiện nay nằm ở công tác thanh kiểm tra. Việc bỏ thanh tra chuyên ngành, chuyển sang kiểm tra thông thường khiến việc phát hiện, xử lý thực phẩm bẩn gặp nhiều hạn chế, trong khi quy trình kiểm tra còn nặng tính hình thức.

Đại biểu Phạm Khánh Phong Lan (Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TP HCM). Ảnh: Hoàng Phong

Bà Lan cho rằng việc kiểm tra chủ yếu theo kế hoạch được phê duyệt trước khiến khả năng phát hiện vi phạm thấp. "Khi được duyệt xong, lại phải gửi thông báo cho doanh nghiệp trước khi kiểm tra thì hiệu quả không cao", bà nói.

Bên cạnh đó, lực lượng chức năng thường chỉ được kiểm tra các cơ sở do mình cấp phép, trong khi những cá nhân, tổ chức vi phạm hoạt động lén lút, ngoài phạm vi quản lý hoặc buôn bán trôi nổi. Nhiều vụ việc phải có sự tham gia của lực lượng công an mới xử lý được.

Hiện ngoài TP HCM đã tổ chức mô hình Sở An toàn thực phẩm theo hướng một đầu mối, các địa phương khác vẫn duy trì quản lý phân tán giữa 3 ngành. Theo bà Lan, điều này dẫn đến tình trạng khi có kết quả thì nhiều đơn vị cùng nhận, nhưng khi xảy ra sự cố lại khó xác định trách nhiệm.

Bà cũng cho biết quy trình xử phạt hành chính còn phức tạp, mất nhiều thời gian từ lập biên bản đến ban hành quyết định, doanh nghiệp có thể khiếu nại kéo dài, gây khó khăn cho cơ quan quản lý. Thực trạng sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ phổ biến khiến việc kiểm soát an toàn thực phẩm càng khó khăn hơn.

Để khắc phục, bà Phạm Khánh Phong Lan đề nghị thực hiện nghiêm Chỉ thị 17 của Trung ương, trong đó tập trung thống nhất đầu mối quản lý và tăng cường hậu kiểm. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay là hành lang pháp lý. Bộ Y tế đang xây dựng dự án Luật An toàn thực phẩm sửa đổi, dự kiến trình Quốc hội vào kỳ họp tháng 10. Khi luật được ban hành, các nghị định và thông tư mới có thể hoàn thiện đồng bộ, thay thế các quy định chồng chéo hiện nay.

vnexpress.net🔗Xem link nguồn

 

Xem nhiều nhất

Đề xuất hỗ trợ tiền, ưu đãi thuế để khuyến khích sinh con

Tin trong nước 1 ngày trước

Tạo môi trường thuận lợi để người dân muốn sinh conThảo luận tại hội trường Quốc hội về kinh tế - xã hội ngày 21/4, đại biểu Lê Thị Ngọc Linh (Cà Mau) cho rằng, già hóa dân số ở nước ta diễn ra nhanh, trong khi tỷ suất sinh giảm thấp. Đây là vấn đề tác động sâu rộng đến kinh tế - xã hội trong dài hạn.Theo thống kê, tổng tỷ suất sinh của Việt Nam hiện khoảng 1,91 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế là 2,1 con. Xu hướng này cho thấy quy mô gia đình ngày càng thu nhỏ, số trẻ em sinh ra không đủ để duy trì quy mô dân số ổn định trong dài hạn.Nếu như năm 2022, mức sinh còn duy trì quanh ngưỡng thay thế, đến năm 2023 giảm xuống khoảng 1,96 con/phụ nữ và năm 2024 còn 1,91 con/phụ nữ. Điều này cho thấy xu hướng giảm nhanh trở lại trong hai năm gần đây, đặc biệt tại khu vực đô thị.Cùng với đó, bà Linh lo ngại, Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn “dân số vàng” sang “dân số già” với tốc độ nhanh, khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên tăng, trong khi lực lượng lao động trẻ có xu hướng giảm.Để khắc phục tình trạng mức sinh thấp và những hệ lụy đi kèm, đại biểu đề nghị tiếp tục điều chỉnh chính sách dân số theo hướng chuyển mạnh từ “kế hoạch hóa gia đình” sang “duy trì mức sinh thay thế bền vững”.Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh (Ảnh: Quốc hội).Trong đó, cần phân vùng chính sách rõ ràng, ưu tiên các địa phương có mức sinh thấp, các đô thị lớn, khu công nghiệp; khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con, coi đây là trách nhiệm xã hội gắn với phát triển bền vững.Đồng thời, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tài chính thiết thực, dài hạn đối với các gia đình sinh và nuôi con nhỏ, như hỗ trợ chi phí sinh con, chăm sóc trẻ em; mở rộng chính sách miễn, giảm chi phí y tế cho trẻ em; đồng thời cần chính sách thuế ưu đãi với hộ gia đình nuôi con nhỏ.Cùng với đó, đại biểu kiến nghị đầu tư phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc trẻ em đồng bộ, chất lượng, phù hợp nhu cầu thực tiễn; mở rộng mạng lưới nhà trẻ, trường mầm non, nhất là tại đô thị và khu công nghiệp; phát triển các dịch vụ trông giữ trẻ ngoài giờ, linh hoạt. Song song, cần có chính sách hỗ trợ nhà ở, việc làm, nâng cao thu nhập cho các cặp vợ chồng trẻ.Đặc biệt, nữ đại biểu cho rằng cần đẩy mạnh truyền thông, giáo dục nhằm thay đổi nhận thức xã hội về hôn nhân và sinh con theo hướng tích cực, hiện đại nhưng vẫn bảo đảm giá trị gia đình bền vững.Bên cạnh khuyến khích kết hôn và sinh con đúng độ tuổi, giảm xu hướng trì hoãn hôn nhân và sinh con trong giới trẻ, đại biểu cho rằng cần chuyển mạnh sang chính sách “khuyến sinh” chủ động, đồng bộ, dài hạn, lấy gia đình và phụ nữ làm trung tâm, tôn trọng quyền lựa chọn sinh con nhưng vẫn tạo môi trường thuận lợi để người dân “muốn sinh và có thể sinh”."Phụ nữ vẫn phải gánh phần lớn việc chăm sóc gia đình không được trả công"Thảo luận tại hội trường, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Phòng) cơ bản thống nhất với các báo cáo của Chính phủ và cơ quan thẩm tra về kết quả thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025.Tuy nhiên, theo đại biểu, một số kết quả còn thiếu tính bền vững, đặc biệt ở cấp cơ sở - nơi gần dân nhất nhưng lại có tỷ lệ nữ lãnh đạo còn thấp. Bên cạnh đó, bất bình đẳng giới vẫn tồn tại từ các nguyên nhân mang tính cấu trúc, khi phụ nữ tiếp tục gánh phần lớn công việc chăm sóc gia đình không được trả công, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội phát triển.Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Ảnh: Quốc hội).Từ thực tiễn trên, đại biểu Việt Nga kiến nghị Chính phủ cần rà soát, phân công rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương đối với từng chỉ tiêu bình đẳng giới, nhất là các chỉ tiêu chưa đạt hoặc đạt thấp kéo dài. Đồng thời, cần coi kết quả thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và chất lượng quản trị của cơ quan, đơn vị.Bên cạnh đó, đại biểu cho rằng cần xây dựng hệ thống dữ liệu giới đồng bộ, hiện đại, liên thông, không chỉ phản ánh tỷ lệ tham gia mà còn đo lường chất lượng tham gia, khả năng tiếp cận và mức độ thụ hưởng. Dữ liệu phải trở thành nền tảng cho hoạch định chính sách và giám sát thực thi, khắc phục tình trạng “đúng chủ trương nhưng chưa trúng đối tượng”...dantri.com.vn🔗Xem link nguồn