Sẽ có hướng dẫn mới về xác định nguồn kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến về dự thảo Thông tư hướng dẫn việc xác định nguồn kinh phí và việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế quy định tại Nghị định 154.


 

Cán bộ làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Đống Đa, Hà Nội. (Ảnh Thế Đại)

Bộ Tài chính đã xây dựng dự thảo Thông tư về hướng dẫn việc xác định nguồn kinh phí và việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế (dưới đây gọi tắt là dự thảo thông tư).

Văn bản này có 6 điều, đang được lấy ý kiến nhân dân trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Dự thảo thông tư quy định việc xác định nguồn kinh phí và việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP ngày 15/6/2025 của Chính phủ quy định về tinh giản biên chế (sau đây viết tắt là Nghị định số 154/2025/NĐ-CP).

Đối tượng áp dụng là các cơ quan, đơn vị có đối tượng thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP.

Ba hướng dẫn về nguồn kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế

Dự thảo thông tư đã xây dựng ba hướng dẫn về nguồn kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế với các nhóm đối tượng khác nhau.

Thứ nhất, Điều 2 của dự thảo thông tư hướng dẫn về nguồn kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế đối với cán bộ, công chức, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn thực hiện các công việc hỗ trợ, phục vụ trong cơ quan hành chính, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố tại khoản 1, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 2 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP.

Theo đó, cơ quan, đơn vị sử dụng nguồn dự toán ngân sách chi thường xuyên được giao hằng năm (ngoài phần kinh phí ngân sách nhà nước bố trí để thực hiện chính sách tinh giản biên chế quy định tại khoản 2 điều này) để chi trả các chế độ sau:

- Trợ cấp một lần bằng 3 tháng tiền lương hiện hưởng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7, điểm a khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 8 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP;

- Tiếp tục trả nguyên tiền lương hiện hưởng và kinh phí đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (nếu thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp) trong thời gian đi học nghề và trợ cấp khoản kinh phí học nghề cho đối tượng theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP.

Ngân sách nhà nước bố trí kinh phí để thực hiện các chế độ còn lại (ngoài chế độ tại khoản 1 điều này) tại Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP theo nguyên tắc:

- Đối với đối tượng cán bộ, công chức, người làm việc theo chế độ hợp đồng được áp dụng chế độ, chính sách như công chức theo quy định của Chính phủ, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn thực hiện các công việc hỗ trợ, phục vụ trong cơ quan hành chính theo quy định của pháp luật thuộc, trực thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương (sau đây viết tắt là các bộ, cơ quan trung ương) thì ngân sách trung ương bảo đảm bố trí trong dự toán ngân sách hằng năm giao cho các bộ, cơ quan trung ương;

- Đối với các đối tượng cán bộ, công chức, người làm việc theo chế độ hợp đồng được áp dụng chế độ, chính sách như công chức theo quy định của Chính phủ, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn thực hiện các công việc hỗ trợ, phục vụ trong cơ quan hành chính, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố thuộc, trực thuộc các đơn vị do địa phương quản lý thì kinh phí thực hiện chế độ, chính sách được tổng hợp vào nhu cầu cải cách tiền lương của địa phương.

Thứ hai, Điều 3 của dự thảo thông tư hướng dẫn về nguồn kinh phí giải quyết chính sách tinh giản biên chế đối với viên chức, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các đơn vị sự nghiệp công lập tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định 154/2025/NĐ-CP.

Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư (nhóm 1); đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên (nhóm 2) theo quy định của Chính phủ: Kinh phí thực hiện các chính sách tinh giản biên chế được lấy từ nguồn thu hoạt động sự nghiệp của đơn vị theo quy định tại điểm a khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 11 Nghị định số 154/2025/NĐ- CP.

Trường hợp đơn vị nhóm 1, nhóm 2 không đủ nguồn kinh phí để giải quyết chính sách, chế độ thì được sử dụng các quỹ được trích theo quy định của đơn vị sự nghiệp công lập (theo thứ tự: Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ bổ sung thu nhập, Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi) và nguồn kinh phí cải cách tiền lương của đơn vị còn dư được trích lập từ nguồn thu hoạt động sự nghiệp và nguồn thu hợp pháp khác (bao gồm cả nguồn thu phí được trích để lại theo quy định) để giải quyết chính sách, chế độ.

Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (nhóm 3) và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (nhóm 4):

Đơn vị sử dụng dự toán ngân sách nhà nước hỗ trợ chi thường xuyên được giao hằng năm (ngoài phần kinh phí ngân sách nhà nước bố trí để thực hiện chính sách tinh giản biên chế quy định tại điểm b khoản này) và nguồn thu sự nghiệp theo quy định tại điểm b khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 11 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP để chi trả cho các chế độ sau:

- Trợ cấp một lần bằng 3 tháng tiền lương hiện hưởng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7, điểm a khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 8 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP;

- Tiếp tục trả nguyên tiền lương hiện hưởng và kinh phí đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (nếu thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp) trong thời gian đi học nghề và trợ cấp khoản kinh phí học nghề cho đối tượng theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP;

Ngân sách nhà nước bố trí kinh phí để thực hiện các chế độ còn lại (ngoài chế độ tại điểm a khoản này) tại Điều 6, Điều 7, Điều 8 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP theo nguyên tắc:

- Đối với đối tượng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc, trực thuộc các bộ, cơ quan trung ương do ngân sách trung ương bảo đảm, bố trí trong dự toán ngân sách hằng năm của các đơn vị sự nghiệp công lập;

- Đối với đối tượng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc, trực thuộc các đơn vị địa phương quản lý thì kinh phí thực hiện chế độ, chính sách được tổng hợp vào nhu cầu cải cách tiền lương của địa phương;

Đối với người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế được lấy từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ chi thường xuyên được giao hằng năm và nguồn thu sự nghiệp theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 11 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP.

Thứ ba, Điều 4 của dự thảo thông tư hướng dẫn nguồn kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế đối với các trường hợp khác.

Nguồn kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế đối với cán bộ, công chức, viên chức và người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị có nguồn kinh phí hoạt động theo nghị quyết, quyết định và các văn bản khác của cấp có thẩm quyền: Từ nguồn kinh phí hoạt động theo quy định tại các nghị quyết, quyết định và các văn bản khác của cấp có thẩm quyền (nếu có). Riêng đối với năm 2025, trong thời gian chờ cấp có thẩm quyền bổ sung kinh phí, điều chỉnh dự toán; các cơ quan, đơn vị chủ động sử dụng nguồn dự toán được giao để kịp thời chi trả chế độ, chính sách cho đối tượng.

Nguồn kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế đối với các đối tượng quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 17 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP thực hiện theo quy định tại khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 11 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP.

Lập dự toán, phân bổ, sử dụng và quyết toán kinh phí

Dự thảo thông tư cũng hướng dẫn việc lập dự toán, phân bổ, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện chính sách tinh giản biên chế thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn Luật, với việc bổ sung một số quy định sau.

Trước hết, về lập dự toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện chính sách tinh giản biên chế:

Đối với các bộ, cơ quan ở trung ương: Hằng năm, căn cứ tình hình thực hiện chính sách tinh giản biên chế (bao gồm số đối tượng tinh giản biên chế và số tiền trợ cấp cho từng đối tượng tinh giản biên chế do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đối tượng tinh giản biên chế lập và được cấp có thẩm quyền phê duyệt quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP); kế hoạch thực hiện tinh giản biên chế năm sau liền kề theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP, chỉ đạo bộ phận kế hoạch tài chính trực thuộc xây dựng dự toán kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế để tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền bố trí, giao dự toán kinh phí thực hiện tinh giản biên chế trong dự toán hằng năm của các bộ, cơ quan ở trung ương;

Đối với các địa phương: Căn cứ tình hình thực hiện chính sách tinh giản biên chế (bao gồm số đối tượng tinh giản biên chế và số tiền trợ cấp cho từng đối tượng tinh giản biên chế do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đối tượng tinh giản biên chế lập và được cấp có thẩm quyền phê duyệt quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP), kế hoạch thực hiện tinh giản biên chế năm sau liền kề theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP, các địa phương chỉ đạo Sở Tài chính xây dựng dự toán kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế để tổng hợp chung vào nhu cầu thực hiện cải cách tiền lương trong dự toán hằng năm của địa phương.

Dự thảo thông tư cũng hướng dẫn việc phân bổ, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước bố trí thực hiện chính sách tinh giản biên chế thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn Luật.

Cụ thể, đối với các bộ, cơ quan ở trung ương: Kinh phí ngân sách nhà nước bố trí thực hiện chính sách tinh giản biên chế được phân bổ vào nguồn kinh phí không thực hiện tự chủ của các đơn vị sử dụng ngân sách.

Trên cơ sở danh sách tinh giản biên chế đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, các bộ, cơ quan trung ương thực hiện chi trả các chế độ, chính sách cho các đối tượng tinh giản biên chế theo quy định.

Còn đối với các địa phương: Trên cơ sở danh sách tinh giản biên chế đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; các cơ quan, đơn vị ở địa phương thực hiện chi trả các chế độ, chính sách cho các đối tượng tinh giản biên chế theo quy định.

Các bộ, cơ quan ở trung ương, địa phương chịu trách nhiệm toàn diện về quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế bảo đảm đúng đối tượng, chính sách, chế độ theo quy định. Trường hợp các bộ, cơ quan ở trung ương, địa phương thực hiện tinh giản biên chế không đúng quy định thì thực hiện thu hồi nộp ngân sách kinh phí thực hiện tinh giản biên chế, thu hồi các quyết định giải quyết tinh giản biên chế và bố trí cho những người không thuộc đối tượng tinh giản biên chế trở lại làm việc; đồng thời, xem xét trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về việc thực hiện không đúng quy định về tinh giản biên chế.

Riêng đối với năm 2025, các cơ quan, đơn vị căn cứ số đối tượng hưởng chế độ, chính sách do ngân sách nhà nước chi trả, định mức hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP và hướng dẫn về nguồn kinh phí quy định tại thông tư này lập dự toán kinh phí thực hiện chế độ, chính sách, gửi cơ quan tài chính cùng cấp để tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền bổ sung kinh phí còn thiếu theo quy định của pháp luật ngân sách nhà nước.

Trong thời gian chờ cấp có thẩm quyền bổ sung kinh phí; các cơ quan, đơn vị chủ động sử dụng nguồn dự toán được giao để kịp thời chi trả chế độ, chính sách cho đối tượng.

Dự thảo cũng nêu rõ, kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế được tổng hợp chung vào báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán của cơ quan, đơn vị hằng năm theo quy định tại Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán và các văn bản hướng dẫn.

Nghị định số 154/2025/NĐ-CP quy định về tinh giản biên chế có hiệu lực thi hành từ ngày 16/6/2025, thay thế Nghị định số 29/2023/NĐ-CP. Các chế độ, chính sách quy định tại Nghị định 154 được áp dụng đến hết ngày 31/12/2030.

Theo nhandan.vn

Link: https://nhandan.vn/se-co-huong-dan-moi-ve-xac-dinh-nguon-kinh-phi-thuc-hien-chinh-sach-tinh-gian-bien-che-post906007.html

Xem nhiều nhất

Cùng với tăng lương, tiền thưởng của cán bộ, công chức thay đổi sao?

Tin trong nước 1 ngày trước

Dự thảo Nghị định quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Bộ Nội vụ xây dựng có 1 điều khoản quy định về chế độ tiền thưởng.Các yếu tố xét thưởng Theo đó, chế độ tiền thưởng được áp dụng trên cơ sở cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang có thành tích công tác đột xuất và kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm.Quỹ tiền thưởng được dùng để thưởng đột xuất theo thành tích công tác và thưởng định kỳ hằng năm theo kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành công việc của từng người hưởng lương trong cơ quan, đơn vị.Người đứng đầu đơn vị lực lượng vũ trang theo quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý hoặc được phân cấp thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm xây dựng Quy chế cụ thể để thực hiện chế độ tiền thưởng áp dụng đối với các đối tượng trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị.Đề xuất chế độ tiền thưởng với cán bộ, công chức.Quy chế này được gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để quản lý, kiểm tra và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị.Liên quan đến quy chế tiền thưởng của cơ quan, đơn vị, dự thảo nghị định nêu tiêu chí thưởng theo thành tích công tác đột xuất và theo kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của người hưởng lương trong cơ quan, đơn vị.Mức tiền thưởng cụ thể đối với từng trường hợp, không nhất thiết phải gắn với mức lương theo hệ số lương của từng người.Quỹ tiền thưởng hằng năm quy định nằm ngoài quỹ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng, được xác định bằng 10% tổng quỹ tiền lương (không bao gồm phụ cấp) theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và cấp bậc quân hàm của các đối tượng trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị.Đến hết năm ngân sách, kể cả thời gian chỉnh lý quyết toán, nếu cơ quan, đơn vị không sử dụng hết quỹ tiền thưởng của năm thì huỷ dự toán (đối với trường hợp dư dự toán) hoặc nộp ngân sách nhà nước (đối với trường hợp dư tạm ứng).Như vậy, dự thảo nghị định đã sửa đổi, hoàn thiện quy định về xử lý số dư quỹ tiền thưởng cuối năm để đảm bảo nguyên tắc quỹ tiền thưởng năm nào gắn với việc thưởng thành tích năm đó và tránh phát sinh các cách hiểu khác nhau trong thực hiện.Nguồn kinh phí để tăng lươngLiên quan đến nguồn kinh phí thực hiện tăng lương cơ sở của các Bộ, cơ quan Trung ương, dự thảo nêu hướng sử dụng 10% tiết kiệm chi thường xuyên (trừ các khoản tiền lương, phụ cấp theo lương, khoản có tính chất lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) dự toán năm 2026 tăng thêm so với dự toán năm 2025 đã được cấp có thẩm quyền giao.Đồng thời, cũng sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2026 sau khi trừ các chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí. Riêng đối với số thu từ việc cung cấp các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, y tế dự phòng và dịch vụ y tế khác của cơ sở y tế công lập, các cơ quan sử dụng tối thiểu 35% sau khi trừ các chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí.Về nguồn kinh phí của các tỉnh, thành phố, địa phương sử dụng 70% tăng thu ngân sách địa phương năm 2025 thực hiện so với dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao (không kể thu tiền sử dụng đất; xổ số kiến thiết; thu cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý và các khoản được loại trừ theo Nghị quyết của Quốc hội, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ).Đồng thời, 50% tăng thu ngân sách địa phương dự toán các năm 2026, 2025, 2024 so với dự toán năm trước mà Thủ tướng Chính phủ giao cũng được huy động (không kể thu tiền sử dụng đất; xổ số kiến thiết; thu cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý và các khoản được loại trừ theo Nghị quyết của Quốc hội, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ).Theo dự thảo, địa phương được hướng dẫn sử dụng 10% tiết kiệm chi thường xuyên (trừ các khoản tiền lương, phụ cấp, đóng góp theo lương, các khoản có tính chất lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) dự toán năm 2026 đã được cấp có thẩm quyền giao, gồm: 10% dự toán chi thường xuyên năm 2023, 10% dự toán chi thường xuyên năm 2024 tăng thêm so với năm 2023, 10% dự toán chi thường xuyên tăng thêm năm 2025 so với năm 2024 và 10% dự toán chi thường xuyên tăng thêm năm 2026 so với năm 2025.Ngoài ra, cũng có thể sử dụng nguồn thực hiện cải cách tiền lương đến hết năm 2025 còn dư chuyển sang; Kinh phí ngân sách địa phương tiết kiệm chi hỗ trợ hoạt động thường xuyên (chi tiền lương, chi hoạt động theo quy định của pháp luật) do tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; Sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2026 sau khi trừ các chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí làm kinh phí thực hiện điều chỉnh tiền lương cơ sở.Dantri.vn🔗Xem link nguồn