81 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam

Phát huy truyền thống vẻ vang, Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển đáp ứng yêu cầu mới, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, trụ cột vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Khối xe Tăng thiết giáp diễu binh trên phố Trần Phú (Hà Nội) trong sự chào đón nồng nhiệt của người dân và du khách trong dịp Đại lễ Quốc khánh 2/9 (Ảnh: Lê Đông/TTXVN).
 

Trải qua 81 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành (1944-2025), Quân đội Nhân dân Việt Nam đã khẳng định vững chắc vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là lực lượng chính trị, quân sự trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Từ một đội quân ra đời trong điều kiện hết sức gian khó, với lực lượng nhỏ bé, vũ khí thô sơ, Quân đội ta đã không ngừng lớn mạnh, lập nên những chiến công hiển hách, làm nên sức mạnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Quân đội Nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; là Quân đội của dân, do dân và vì dân.

Ngay từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ngày 22/12/1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định nguyên lý có ý nghĩa nền tảng: “Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự.”

Nguyên lý ấy đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển của Quân đội Nhân dân Việt Nam, bảo đảm cho Quân đội ta luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Đảng, gắn bó máu thịt với Nhân dân.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh sức mạnh đặc biệt của một quân đội mang bản chất chính trị cách mạng sâu sắc. Ngay trong những ngày đầu ra quân, với chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, Quân đội ta đã mở đầu truyền thống “đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu.”

Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lực lượng vũ trang cách mạng đã trở thành nòng cốt cho toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quán triệt đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, Quân đội Nhân dân Việt Nam không ngừng trưởng thành, phát triển nghệ thuật quân sự từ đánh nhỏ lên đánh lớn, từ du kích lên chính quy, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu,” buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneve, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp tục thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và ý chí kiên cường của một quân đội cách mạng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta không chỉ dám đánh, quyết đánh mà còn từng bước làm phá sản các chiến lược chiến tranh của địch.

Tiểu đoàn 53, bộ đội tên lửa thể hiện quyết tâm không ngừng nâng cao tinh thần cảnh giác, đập tan mọi âm mưu mới của đế quốc Mỹ (Ảnh: Vũ Tạo/TTXVN).
 

Thắng lợi trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, đặc biệt là chiến thắng trong cuộc tập kích chiến lược đường không của không quân Mỹ trên bầu trời Hà Nội, đã buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Paris, tạo tiền đề quyết định cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Cùng với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội Nhân dân Việt Nam còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả.

Trong suốt các cuộc kháng chiến, Quân đội ta đã sát cánh cùng nhân dân Lào và Campuchia chống kẻ thù chung, vì độc lập, tự do của mỗi dân tộc; sau đó tiếp tục làm nghĩa vụ quốc tế, góp phần giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, giúp nhân dân Lào bảo vệ thành quả cách mạng.

Những đóng góp đó là biểu hiện sinh động của tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, thể hiện tầm vóc và trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bước vào thời kỳ hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước, vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục được khẳng định và mở rộng.

Quân đội không chỉ là lực lượng nòng cốt bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, mà còn là trụ cột quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh Nhân dân. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân trước hết là xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; ở đó, Quân đội vừa là lực lượng bảo vệ, vừa là lực lượng tham gia phát triển kinh tế-xã hội, củng cố cơ sở chính trị, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thực tiễn những năm gần đây tiếp tục khẳng định vai trò và hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội cụ Hồ” trong lòng Nhân dân. Từ phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả bão lũ, dịch bệnh đến tham gia xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế-xã hội ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, các cán bộ, chiến sỹ Quân đội luôn có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất. Những hoạt động thiết thực ấy đã làm sâu sắc thêm mối quan hệ “máu thịt” giữa Quân đội và Nhân dân.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày càng thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong thực hiện quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, chủ động nhận diện, dự báo, ngăn ngừa và xử lý hiệu quả các nguy cơ, thách thức đối với an ninh quốc gia, không để bị động, bất ngờ.

Quân đội đã phát huy vai trò tham mưu chiến lược tin cậy của Đảng, Nhà nước; chủ động hội nhập quốc phòng quốc tế; tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh, gọn, mạnh, từng bước hiện đại là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Hiện đại hóa vũ khí, trang bị, tổ chức và phương thức hoạt động là yêu cầu tất yếu, song luôn gắn chặt với xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Sự trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; bản lĩnh chính trị vững vàng; phẩm chất đạo đức trong sáng chính là nền tảng bảo đảm để Quân đội hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Phát huy truyền thống vẻ vang, Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển đáp ứng yêu cầu mới, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, trụ cột vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo www.vietnamplus.vn

Xem nhiều nhất

Các Bộ hoàn thành sắp xếp bộ máy gắn với phân cấp, phân quyền trong tháng 10

Tin trong nước 1 ngày trước

Chính phủ ra Nghị quyết số 221/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.Cụ thể hoá các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phươngChương trình nhằm tổ chức triển khai nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả Kết luận số 76-KL/TW và Kế hoạch số 06-KH/TW; tạo sự thống nhất cao trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.Bám sát quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại Kết luận số 76-KL/TW, Kế hoạch số 06-KH/TW và các chủ trương, kết luận có liên quan của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; bảo đảm việc triển khai đúng định hướng, đúng thẩm quyền, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương.Đồng thời, cụ thể hóa các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương; xác định rõ nhiệm vụ, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, sản phẩm, thời hạn hoàn thành và cơ chế theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá.Các nhiệm vụ, giải pháp phải cụ thể, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm; xác định rõ việc cần làm ngay, việc thực hiện thường xuyên; bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả.Bên cạnh đó, đề cao trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc; tăng cường theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện. Chín  nhiệm vu, giải pháp Chương trình đưa ra 9 nhiệm vụ, giải pháp sau:Quán triệt, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 76-KL/TW và Kế hoạch số 06-KH/TW; Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực, công cụ thực thi và kiểm soát quyền lực, cắt giảm thủ tục hành chính; nghiên cứu xây dựng khu kinh tế đặc biệt để tạo không gian phát triển mới, nghiên cứu mô hình đơn vị hành chính cấp xã mang tính hạt nhân; nghiên cứu khung tổ chức hệ thống hành chính nhà nước phù hợp với mô hình mới; rà soát, hoàn thiện tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức kinh tế-kỹ thuật, bảo đảm nguồn lực cho cấp xã.Cùng với đó, sắp xếp, tinh gọn bộ máy bên trong các bộ, cơ quan ngang bộ và sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập; cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cấp xã; đẩy mạnh chuyển đổi số, liên thông dữ liệu, chuẩn hóa phần mềm phục vụ vận hành mô hình 2 cấp; xử lý hiệu quả trụ sở, tài sản công, hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp.Đẩy nhanh tiến độ rà soát, ban hành các văn bản pháp luật, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế cho địa phươngVề hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, Nghị quyết nêu ra yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy nhanh tiến độ rà soát, ban hành các văn bản pháp luật quy định chi tiết, thi hành nhằm tháo gỡ dứt điểm, kịp thời điểm nghẽn về thể chế cho địa phương; đồng bộ hệ thống pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và cơ chế kiểm soát quyền lực.Trọng tâm là xử lý các quy định còn chồng chéo, giao thoa, chưa rõ trách nhiệm hoặc chưa phù hợp với mô hình mới; bảo đảm một việc có một cơ quan chủ trì, một đầu mối chịu trách nhiệm chính, một nguồn dữ liệu liệu dùng chung, một quy trình phối hợp liên thông và một cơ chế kiểm tra, giám sát. Đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính (thực hiện thường xuyên).Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan (Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Việt Nam,...) tổ chức rà soát, cắt giảm thủ tục xác nhận, xác minh, xin ý kiến, thỏa thuận trong giải quyết hồ sơ, đặc biệt lưu ý cắt giảm dựa trên dữ liệu, liên thông điện tử của các cơ quan nhà nước, hạn chế tối đa đẩy trách nhiệm cho người dân, doanh nghiệp; bảo đảm tính thống nhất, liên thông và hiệu quả trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp (hoàn thành trong tháng 10/2027).Đồng thời, Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan ngang bộ trong quá trình sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cho địa phương, nhất là cấp xã, bảo đảm bộ máy chính quyền cơ sở tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (thực hiện thường xuyên).Bổ sung, điều chỉnh các quy định pháp luật về tổ chức bộ máy trong tháng 10/2026Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan ngang bộ sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy (hoàn thành trong tháng 10/2026).Bên cạnh đó, tiếp tục rà soát các nhiệm vụ đã phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cho địa phương, nhất là cấp xã; đánh giá mức độ phù hợp, khả năng thực hiện và điều kiện bảo đảm.Phân cấp, phân quyền phải thực chất, theo phương châm "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm"; đồng thời gắn với nhân lực, kinh phí, dữ liệu, hạ tầng số, hướng dẫn chuyên môn, công cụ thực thi và cơ chế hậu kiểm. Kiên quyết chấm dứt tình trạng giao nhiệm vụ nhưng không bảo đảm điều kiện thực hiện (thực hiện thường xuyên).vietnamplus.vn🔗Xem link nguồn