Thủ tướng phê chuẩn kết quả bầu Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Trọng Hiếu, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Hà Tĩnh.Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 7/7/2026.Tân Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Trọng Hiếu. Ảnh: BHTTrước đó, chiều 2/7, tại kỳ họp thứ 6 (kỳ họp chuyên đề), HĐND tỉnh Hà Tĩnh khóa XIX đã bầu bổ sung chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2026 - 2031.Với 100% đại biểu có mặt tán thành (54/54 phiếu), ông Nguyễn Trọng Hiếu, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Tài chính Hà Tĩnh, được bầu giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.

Những điểm mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội

 Mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động bị phạt tới 70 triệu đồngĐối với vi phạm quy định về việc làm, nghị định quy định:1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi phân biệt đối xử trong việc làm khi không xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc và các hành vi duy trì, bảo vệ việc làm cho người lao động dễ bị tổn thương; trừ các hành vi phân biệt đối xử quy định tại điểm a khoản 2 Điều 11, điểm d khoản 1 Điều 19, khoản 2 Điều 34, khoản 1 Điều 40 và điểm a khoản 2 Điều 41 của nghị định này.2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi khai thác, chia sẻ, sử dụng trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin về thị trường lao động chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố, phổ biến mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.3. Phạt tiền từ 45.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động dịch vụ việc làm mà không phải là tổ chức dịch vụ việc làm được thành lập hợp pháp.4. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sau đây:a) Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện chính sách về việc làm, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;b) Lợi dụng hoạt động dịch vụ việc làm xâm phạm đến chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;c) Mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin về thị trường lao động chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố, phổ biến mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.5. Hình thức xử phạt bổ sungTịch thu tang vật vi phạm hành chính là hồ sơ giả mạo đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 nêu trên.6. Biện pháp khắc phục hậu quảBuộc trả lại cho cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ việc làm khoản tiền đã thu của cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ việc làm và khoản tiền lãi của số tiền này tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 nêu trên.Phạt đến 75 triệu đồng đối với hành vi lôi kéo, dụ dỗ, quảng cáo gian dối để lừa gạt người lao độngĐối với vi phạm quy định về tuyển dụng, quản lý lao động, nghị định quy định:1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:a) Không khai trình việc sử dụng lao động theo quy định;b) Thu tiền của người lao động tham gia tuyển dụng lao động;c) Không thể hiện, nhập đầy đủ thông tin về người lao động vào sổ quản lý lao động kể từ ngày người lao động bắt đầu làm việc;d) Không xuất trình sổ quản lý lao động khi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sau đây:a) Phân biệt đối xử trong lao động trừ các hành vi phân biệt đối xử quy định tại khoản 1 Điều 10, điểm d khoản 1 Điều 19, khoản 2 Điều 34, khoản 1 Điều 40 và điểm a khoản 2 Điều 41 của nghị định này.b) Sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề, công việc phải sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.c) Không báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo quy định.d) Không lập sổ quản lý lao động hoặc lập sổ quản lý lao động không đúng thời hạn hoặc không đảm bảo các nội dung cơ bản theo quy định pháp luật.3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: lôi kéo; dụ dỗ; hứa hẹn; quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.4. Biện pháp khắc phục hậu quảBuộc người sử dụng lao động trả lại cho người lao động khoản tiền đã thu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 nêu trên.Vi phạm về chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộcĐối với vi phạm về chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghị định quy định:1. Phạt cảnh cáo đối với các hành vi quy định tại khoản 3 điều này khi số tiền vi phạm tính tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính dưới 400.000 đồng.2. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội; không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng thuộc trường hợp pháp luật quy định không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật, theo một trong các mức sau đây:a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động.b) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm từ 10 người đến dưới 50 người lao động.c) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm từ 50 người đến dưới 100 người lao động.d) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, khi vi phạm từ 100 người đến dưới 300 người lao động.đ) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, khi vi phạm từ 300 người đến dưới 500 người lao động.e) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, khi vi phạm từ 500 người đến dưới 700 người lao động.g) Từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng, khi vi phạm từ 700 người đến dưới 1.000 người lao động.h) Từ 60.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.3. Phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội sau đây:a) Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã đăng ký kể từ sau ngày đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 39 của Luật Bảo hiểm xã hội;b) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật.4. Biện pháp khắc phục hậu quảa) Buộc người sử dụng lao động lập hồ sơ đăng ký hoặc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động; đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 điều này.b) Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 nêu trên.Vi phạm về trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bị phạt tới 75 triệu đồngVi phạm về trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghị định quy định:1. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội theo một trong các mức sau đây:a) Từ 6.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động.b) Từ 12.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm từ 10 người đến dưới 50 người lao động.c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, khi vi phạm từ 50 người đến dưới 100 người lao động.d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, khi vi phạm từ 100 người đến dưới 300 người lao động.đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, khi vi phạm từ 300 người đến dưới 500 người lao động.e) Từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng, khi vi phạm từ 500 người đến dưới 700 người lao động.g) Từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, khi vi phạm từ 700 người đến dưới 1.000 người lao động.h) Từ 70.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.2. Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội sau đây:a) Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội.b) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.3. Biện pháp khắc phục hậu quảa) Buộc người sử dụng lao động lập hồ sơ đăng ký hoặc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động; đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 nêu trên;b) Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 nêu trên.Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/9/2026.

Công khai tiến độ của tỉnh hà tĩnh

Trung Quốc kích hoạt ứng phó lũ lụt khẩn cấp ở 5 tỉnh

Bộ Thủy lợi Trung Quốc hôm 18/6 đã kích hoạt phản ứng khẩn cấp lũ lụt cấp độ IV đối với các tỉnh An Huy, Giang Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam và Quý Châu trước đợt mưa lớn dự kiến kéo dài đến ngày 25/6.Trung Quốc có hệ thống phản ứng khẩn cấp gồm 4 cấp, trong đó cấp độ I là cấp độ phản ứng nghiêm trọng nhất.Các nhà dự báo thời tiết cảnh báo mưa to đến rất to và kéo dài sẽ quét qua miền Trung và miền Đông Trung Quốc trong tuần tới.Các cơ quan chức năng cảnh báo rằng lượng mưa kéo dài và dữ dội có thể dẫn đến nhiều rủi ro, bao gồm lũ quét, ngập lụt ở các con sông vừa và nhỏ, các thảm họa địa chất và ngập úng đô thị. Người dân sống tại các khu vực nhà ở ven sườn dốc được khuyến cáo tuân thủ các hướng dẫn an toàn, chẳng hạn như tránh ở các tầng thấp và các khu vực phía sau nhà (áp sát vách đất).Bộ Thủy lợi Trung Quốc đã ban hành các cảnh báo cụ thể cho từng tỉnh, liệt kê các khu vực có nguy cơ cao, các hồ chứa và các vùng dễ bị lũ lụt, đồng thời cử 3 phái đoàn công tác đến Quý Châu, Hồ Bắc và Hồ Nam để hướng dẫn tại chỗ.dantri.com.vn🔗Xem link nguồn

Suy ngẫm về tư tưởng "lấy dân làm gốc" nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Bác Hồ

Từ những ngày chuẩn bị giành chính quyền, Bác Hồ đã khẳng định chân lý "Nước lấy dân làm gốc". Với Bác, "gốc" chính là tài dân, lực lượng dân, của dân, lòng dân, quyền dân. Người căn dặn: "Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" (1). Tư tưởng ấy được Bác cụ thể hóa bằng những luận điểm giản dị mà thấm thía: "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân...Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân (2).Đặc biệt, Bác luôn coi trọng chính quyền cơ sở - cấp gần dân nhất. Bác yêu cầu tổ chức chính quyền phải gọn nhẹ, rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo và mỗi cán bộ thực sự là "công bộc của dân". Người chỉ rõ tinh, gọn bộ máy là nhằm xây dựng cơ quan nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả, mang lại lợi ích cho đất nước; tránh rườm rà, cồng kềnh, thực hiện chủ trương nhanh, gọn và tiện lợi; góp phần giảm bớt chi phí ngân sách và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân.Bác yêu cầu: "…tổ chức còn kềnh càng, thừa người, phải sắp xếp cho gọn gàng, hợp lý…" (3); "Về biên chế - từ các bộ, các ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và càng ngày càng phình ra. Vì vậy mà sinh ra quan liêu, lãng phí" (4). Người phê phán tình trạng bộ máy cồng kềnh, quan liêu, xa rời thực tiễn, coi đó là một trong những nguyên nhân làm giảm sút hiệu quả quản lý và ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân.Những lời dạy của Bác mãi mãi là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân làm trung tâm. Việc chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hiện thực hóa tư tưởng "gần dân, sát dân" của Bác, đồng thời thể hiện rõ tư duy đổi mới trong quản trị xã hội của Đảng, Nhà nước.Sau gần một năm vận hành, mô hình chính quyền địa phương hai cấp bước đầu phát huy hiệu quả, mang lại những thay đổi rõ nét trong phương thức phục vụ nhân dân. Chính quyền cấp xã không còn là "mắt xích thụ động" trong guồng máy hành chính mà vươn mình thành thực thể tự chủ: tự quyết, tự làm, tự chịu trách nhiệm, chủ động kiến tạo và phục vụ nhân dân ngay từ gốc.Người dân giờ đây không còn phải "chạy sở, đợi huyện". Mô hình "Một cửa, một lần, không trung gian" đã xóa nhòa những quãng đường xa, cắt bớt những ngày chờ đợi. Nền tảng số hóa như cánh tay nối dài, hồ sơ trực tuyến, thanh toán không tiền mặt, làm thủ tục mọi lúc mọi nơi.Có nơi, cán bộ đến tận nhà trả kết quả (mô hình "hai phục vụ" tại xã đảo Minh Châu - Hà Nội) (5); mô hình "Ngày thứ Bảy hành chính lưu động" tại Quảng Ngãi, cán bộ vào tận bản làng vùng sâu để tiếp nhận thủ tục hành chính, hướng dẫn bà con (6). Hình ảnh người cán bộ tận tụy đến từng nhà, từng bản chính là sự cụ thể hóa sinh động nhất lời Bác dạy "Việc lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc hại đến dân, ta phải hết sức tránh".Tại phường An Hải (Hải Phòng), người dân có thể đến bất cứ đơn vị hành chính nào trên địa bàn để giải quyết thủ tục (7); tại phường Hạc Thành (Thanh Hóa), phần lớn hồ sơ được giải quyết trước hạn. Ở Nghệ An (xã Sơn Lâm), ngày trước chuyển nhượng đất cho con phải chạy xe 20km lên huyện, nay chỉ còn chưa đầy 20 phút tại trụ sở xã (8).Tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp về dịch vụ công, thủ tục hành chính tăng lên rõ rệt. Tại Hà Nội tỷ lệ này đạt gần 99% (9), Khánh Hòa 88,24% (10), Hải Phòng 90% hồ sơ trước hạn. Đặc biệt, tại Đặc khu Phú Quý (Lâm Đồng) có tới 99,94% hồ sơ giải quyết đúng hạn. Tại Đà Nẵng, kết quả khảo sát ghi nhận hoạt động Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã hiệu quả, đáp ứng đúng mục tiêu, yêu cầu (11). Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh/thành khác đang tổ chức thăm dò dư luận đối với hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương hai cấp (12).Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi còn gặp những khó khăn, vướng mắc nhất định. Áp lực công việc của cán bộ, công chức cấp xã tăng lên đáng kể. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở nhiều nơi vừa thừa vừa thiếu. Nhiều cán bộ không có chuyên môn sâu ở các lĩnh vực được phân công, đặc biệt thiếu cán bộ có chuyên môn về công nghệ thông tin, chuyển đổi số.Hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ. Một số lĩnh vực chưa có quy trình, thủ tục được ban hành kịp thời. Một bộ phận cán bộ còn lúng túng, làm việc cầm chừng. Chế độ phụ cấp chưa theo kịp, ảnh hưởng nhất định đến tâm tư và sự gắn bó lâu dài của đội ngũ cán bộ cơ sở.Để lời Bác dạy thấm sâu hơn nữa, thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền một cách rõ ràng - rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cấp xã, coi đây là khâu đột phá. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, giúp giảm thời gian và chi phí, đồng thời tăng tính minh bạch, chống tiêu cực.Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở, bởi như Bác đã dạy: "Dân chúng trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh, có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn... Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân" (13).Cùng với đó, cần tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân theo chuẩn mực "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" - đó chính là nền tảng vững chắc để cán bộ cơ sở vượt qua áp lực.Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, chúng ta không chỉ dâng lên Người những lời ca, những bông hoa tươi thắm, mà còn dâng lên những thành quả cách hành chính - một nền hành chính thực sự của dân, do dân và vì dân. Và quan trọng hơn cả, đó là một thông điệp xuyên suốt: Cải cách bộ máy không phải đích đến mà chỉ là phương tiện để phục vụ nhân dân, để dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ghi chú:1 Nguyễn Thanh Tú (2026), Tư tưởng lấy dân làm gốc của Bác Hồ soi sáng hôm nay, https://www.hcmcpv.org.vn, ngày 10/2/2026.2 Bùi Đình Phong (2020), Tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” soi sáng công tác dân vận hiện nay, https://hochiminh.vn, ngày 13/10/2020.3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.432.4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 13, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.314.5 Báo Hà Nội online (2026), Hà Nội triển khai chính quyền hai cấp gần dân, minh bạch, hiệu quả, https://hanoionline.vn, tháng 11/2025.6 Chu Thanh Vân (2026), Tiếp tục gỡ nút thắt để chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động thông suốt, https://www.vietnamplus.vn, ngày 3/5/2026.7,8 Báo Nhân Dân điện tử (2026), Chính quyền địa phương hai cấp: Bước chuyểnđể phục vụ người dân tốt hơn, https://special.nhandan.vn, Truy cập ngày 7/5/2026.9 Huy Kiên, Lê Hải (2026), Nâng cao chất lượng cải cách hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp, https://hanoi.gov.vn, ngày 7/4/2026.10 Nguyễn Vũ (2026), Cải thiện SIPAS, hướng tới “rất hài lòng”, https://baokhanhhoa.vn, ngày 4/5/2026.11 Hàn Giang (2026), Một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp: Nhìn từ hiệu quả cung cấp dịch vụ hành chính công, https://baodanang.vn, ngày 7/5/2026.12 Tiến Long (2026), TP.HCM lấy ý kiến người dân về hiệu quả vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, https://tuoitre.vn, ngày 6/5/2026.13 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.668.vov.vn🔗Xem link nguồn

  • Đang truy cập12
  • Hôm nay191
  • Tháng hiện tại13,630
  • Tổng lượt truy cập1,309,041