Tạo chuyển biến căn bản, đồng bộ, mạnh mẽ trong phòng chống tội phạm

Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh nhấn mạnh, lấy phòng ngừa chủ động, từ sớm, từ xa, từ cơ sở là chính, kết hợp với tích cực phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ với các loại tội phạm.

Thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Hồng Lĩnh vừa ký ban hành chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2026 - 2030.

Lực lượng chức năng Hà Tĩnh kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ với các loại tội phạm.

Thời gian qua, các cấp ủy đảng, chính quyền trong tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác phòng, chống tội phạm đạt nhiều kết quả quan trọng... Tuy vậy, một số cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đúng mức, chưa chủ động, kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt đối với công tác phòng, chống tội phạm; chưa huy động được cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng, chống tội phạm.

Những năm tới, dự báo tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh có thể tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo, phát sinh những yếu tố mới cả về quy mô, tính chất và phương thức, thủ đoạn hoạt động; xuất hiện các loại hình tội phạm mới, phi truyền thống, mang tính “phi biên giới” với phương thức, thủ đoạn mới, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, đặt ra những vấn đề mới về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân.

Phát huy kết quả đạt được, khắc phục những tồn tại, hạn chế, tạo chuyển biến căn bản, đồng bộ, mạnh mẽ trong công tác phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan, đơn vị quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm các nội dung sau:

1. Tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, chính sách, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác phòng, chống tội phạm; quán triệt sâu sắc quan điểm phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên, chiến lược, phải thực hiện mọi nơi, mọi lúc, mọi địa bàn, lĩnh vực, có trọng tâm, trọng điểm; lấy phòng ngừa chủ động, từ sớm, từ xa, từ cơ sở là chính, kết hợp với tích cực phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ với các loại tội phạm; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên công tác phòng, chống tội phạm; chủ động đề ra và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, nghị quyết, đề án, chương trình, kế hoạch phòng, chống tội phạm cả giai đoạn, từng năm gắn với tăng cường đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, giám sát và định kỳ sơ kết, tổng kết, đánh giá tình hình, kết quả thực hiện. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc, tích cực trong tham gia phòng, chống tội phạm; làm tốt công tác bảo vệ người đấu tranh, tố giác tội phạm.

Người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm phải chịu trách nhiệm trước hết về tình hình tội phạm và tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tội phạm ở ngành, lĩnh vực, cơ quan, đoàn thể, đơn vị, địa phương, lực lượng mình phụ trách, quản lý. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có trách nhiệm chủ động, tích cực thực hiện và tuyên truyền, giáo dục, vận động gia đình, người thân thực hiện pháp luật liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm.

2. Đẩy mạnh công tác phòng ngừa xã hội kết hợp triển khai đồng bộ với phát huy vai trò của MTTQ và các tổ chức đoàn thể trong tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhằm phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở để ngăn chặn tội phạm xảy ra. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về đạo đức, lối sống, kỹ năng, kiến thức, pháp luật phòng, chống tội phạm theo hướng ứng dụng lợi thế của khoa học công nghệ, chuyển đổi số; phát huy các kênh thông tin chính thống trên nền tảng số để cung cấp kịp thời các vụ việc điển hình, giúp cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và Nhân dân, nhất là đối với học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên nhận diện các phương thức, thủ đoạn tội phạm mới để phòng ngừa và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật. Nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc gắn với công tác dân vận, xây dựng, phát huy thế trận phòng, chống tội phạm toàn dân, mạng lưới phòng, chống tội phạm toàn dân trên không gian mạng; kiện toàn và nhân rộng các mô hình tự quản, tự bảo vệ, tổ liên gia an ninh, an toàn về trật tự xã hội, camera an ninh, giáo họ an toàn về trật tự xã hội…; tập trung xây dựng xã, phường không ma túy gắn với tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, từng bước xây dựng khu dân cư, xã, phường an toàn, không có tội phạm.

Tăng cường đối thoại, tiếp xúc giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, lực lượng chuyên trách với Nhân dân để lắng nghe, tiếp nhận phản ánh về tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội. Tranh thủ vận động, phát huy vai trò người có uy tín, có ảnh hưởng tại cơ sở để tham gia giải quyết mâu thuẫn nội bộ Nhân dân, không để mâu thuẫn nhỏ tích tụ thành mâu thuẫn lớn, phát sinh thành vụ án hình sự. Làm tốt công tác quản lý, cảm hóa, giáo dục, giúp đỡ những người được đặc xá, tha tù, người mắc tệ nạn xã hội, người chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương, tái hòa nhập cộng đồng và những người có nguy cơ gây án như: người có tiền sự, người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy, đối tượng có biểu hiện loạn thần, “ngáo đá”, người bị mắc bệnh tâm thần hoặc có tiền sử bệnh tâm thần...

Tập trung giải quyết các vấn đề bức thiết của xã hội là nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh tội phạm như: bài trừ tệ nạn quan liêu, nhũng nhiễu, lãng phí, tiêu cực trong quản lý Nhà nước và hành chính công, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, tình trạng người nghiện ma túy ngoài xã hội; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, nâng cao thu nhập, đời sống của người dân, chính sách tín dụng cho người chấp hành xong án phạt tù, người sau cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng, định hướng, giáo dục lối sống lành mạnh cho thế hệ trẻ.

3. Chủ động, quyết liệt tấn công, trấn áp các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, có yếu tố nước ngoài, sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người, lừa đảo, đòi nợ, siết nợ, cưỡng đoạt tài sản, “tín dụng đen”, cờ bạc, mua bán người, xâm hại trẻ em, “bắt cóc online”; môi trường, tài nguyên, khoáng sản, an toàn thực phẩm; buôn lậu, buôn bán hàng cấm, hàng giả, gian lận thương mại; “tội phạm đường phố”, tội phạm liên quan đến thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên; tội phạm về ma túy, kinh tế, chức vụ, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đánh cắp, mua bán dữ liệu của cơ quan, tổ chức, cá nhân... Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm” và hành vi bảo kê, bao che, dung túng, tiếp tay cho tội phạm và tệ nạn xã hội. Đẩy mạnh khai thác, ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, chuyển đổi số trong công tác phòng, chống tội phạm.

4. Đẩy mạnh công tác cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng, tiến độ, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, hỗ trợ tư pháp, quản lý sau thi hành án hình sự và giám định, định giá tài sản nhằm chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội; tiến hành điều tra, xác minh triệt để các vụ án, vụ việc, truy nguyên tận gốc đối tượng chủ mưu, cầm đầu, kê biên tài sản do phạm tội mà có để chặn đứt nguồn tài chính của các đường dây tội phạm. Thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật trong tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, nhất là về quản lý xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu, quản lý cư trú, di biến động dân cư, quản lý người nước ngoài, các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự… không để tội phạm lợi dụng hoạt động. Thực hiện tốt kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cải cách tư pháp trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

5. Tiếp tục xây dựng, củng cố lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm từ tỉnh đến xã thật sự trong sạch, liêm chính, đủ năng lực và có sức chiến đấu cao. Kiện toàn, nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, lực lượng bảo vệ pháp luật, kỹ thuật hình sự, giám định tư pháp, định giá tài sản. Duy trì, xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế phối hợp chặt chẽ, chủ động, tích cực, thường xuyên, hiệu quả giữa các lực lượng Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Quân đội, Hải quan, Ngân hàng, Y tế và các cơ quan, ban, ngành khác trong công tác phòng, chống tội phạm.

6. Cân đối ngân sách địa phương để ưu tiên đầu tư hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật cho công tác phòng, chống tội phạm, nhất là ở cơ sở, các địa bàn, lĩnh vực trọng điểm, tuyến đầu như biên giới và lực lượng chuyên trách, trực tiếp phòng, chống tội phạm; nghiên cứu có chính sách đặc thù hỗ trợ nhằm khuyến khích, động viên đối với một số lực lượng chuyên trách trong phòng, chống tội phạm, bảo đảm đúng quy định, phù hợp với điều kiện thực tiễn.

7. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế một cách toàn diện, thực chất, có chiều sâu trong công tác phòng, chống tội phạm với cơ quan chức năng các nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là các nước có đông người Hà Tĩnh sinh sống, học tập, lao động, du lịch. Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả việc trao đổi thông tin, điều tra, xử lý, truy tìm, truy nã, dẫn độ tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, “phi biên giới”, sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, mua bán người, mại dâm, cờ bạc, ma túy, rửa tiền, tài chính số, mua bán, đánh cắp dữ liệu… theo các công ước, hiệp ước, điều ước quốc tế, hiệp định tương trợ tư pháp, hiệp định hợp tác phòng, chống tội phạm và các hiệp ước, điều ước song phương, đa phương mà Việt Nam là thành viên hoặc đã ký kết.

8. Các cấp ủy, tổ chức đảng tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến và xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Chỉ thị phù hợp với từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Đảng ủy UBND tỉnh chỉ đạo UBND tỉnh xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện hiệu quả chỉ thị. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy hướng dẫn tuyên truyền, phổ biến chỉ thị; chỉ đạo các cơ quan báo chí của tỉnh thường xuyên tuyên truyền công tác bảo đảm an ninh, trật tự. Đảng ủy MTTQ tỉnh chỉ đạo MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân tích cực thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống tội phạm; đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Ủy ban kiểm tra các cấp tham mưu cấp ủy kiểm tra, giám sát việc thực hiện chỉ thị; tập trung kiểm tra trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu ở những địa bàn, lĩnh vực để tội phạm diễn biến phức tạp. Đảng ủy Công an tỉnh chủ trì, phối hợp Ban Nội chính Tỉnh ủy và các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy theo chức năng, nhiệm vụ, có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị, định kỳ hằng năm tổng hợp báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Xem nhiều nhất

Đường tới toàn thắng 30/4/1975: Khởi nghĩa từng phần - bước mở đầu sáng tạo

Thông tin tuyên truyền 1 ngày trước

Tháng 7/1954, ngay sau khi thực dân Pháp ký kết Hiệp định Geneve về Đông Dương, đế quốc Mỹ lập tức nhảy vào “lấp chỗ trống”, tiến hành xâm lược miền Nam Việt Nam. Mỹ dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, ra sức đàn áp phong trào cách mạng.Đến cuối năm 1958, trước sự đàn áp, khủng bố của Mỹ - Diệm, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề, lâm vào tình thế hiểm nghèo: Cả miền Nam tổn thất 9/10 số cán bộ, đảng viên. Ở Nam Bộ, khoảng 7 vạn cán bộ đảng viên ta bị địch giết; gần 90 vạn cán bộ, nhân dân bị địch bắt, bị tù đày; gần 20 vạn bị tra tấn thành tàn tật; chỉ còn khoảng 5.000 đảng viên so với 60.000 đảng viên trước đó. Bến Tre còn 162 đảng viên, Tiền Giang còn 92, Gia Định, Biên Hòa mỗi nơi chỉ còn 1 chi bộ đảng.Ở Khu 5 (lúc đó gồm cả Trị - Thiên và cực Nam Trung Bộ) khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi ủy viên xã bị bắt, bị giết; có tỉnh chỉ còn 2-3 chi bộ, 12 huyện đồng bằng không còn cơ sở đảng. Trị - Thiên chỉ còn 160/23.400 đảng viên trước đó[1].Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975. (Ảnh: TTXVN)Phương pháp đấu tranh hòa bình của cách mạng miền Nam (từ tháng 7/1954 đến thời điểm này) rõ ràng không hiệu quả. Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng ta là phải tìm ra con đường đấu tranh mới, phù hợp để cứu nguy cho cách mạng miền Nam đang lúc "dầu sôi lửa bỏng".Trước yêu cầu thực tiễn cách mạng, đầu năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng được tổ chức tại Hà Nội. Đa số ý kiến đều cho rằng, muốn thống nhất đất nước, thì phải bằng con đường bạo lực cách mạng! Nhưng bạo lực cách mạng như thế nào thì bàn luận rất kỹ lưỡng. Nếu công khai đưa lực lượng vũ trang từ miền Bắc tiến công thì Mỹ sẽ trực tiếp đưa quân tham chiến (như trong chiến tranh Triều Tiên 1950-1953), tình hình sẽ rất khó khăn, chiến tranh có thể lan rộng không thể kiểm soát. Nếu phát động chiến tranh cách mạng tại miền Nam thời điểm này cũng sẽ không thể thành công, vì cả thế và lực của ta còn rất yếu, lực lượng vũ trang tại chỗ của ta hầu như không đáng kể, chưa thể đương đầu với các sư đoàn ngụy quân cùng cỗ máy chiến tranh lớn mạnh của địch.Cuối cùng, Hội nghị quyết định hai vấn đề chính: Một là Cách mạng miền Nam do nhân dân miền Nam trực tiếp thực hiện, có nhiệm vụ nhằm đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm - chế độ tay sai của Mỹ; Hai là phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng: cụ thể là "lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân"[2]. Đó là 2 vấn đề mấu chốt/quan trọng nhất được Hội nghị thông qua, thực chất là phát động cuộc khởi nghĩa từng phần ở miền Nam (trọng điểm ở nông thôn và miền núi).Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 ra đời phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của cán bộ, đồng bào miền Nam, đã thổi bùng lên phong trào Đồng khởi toàn miền Nam (1959-1960). Nhân dân ta đã đứng lên đấu tranh giành quyền làm chủ với mức độ khác nhau: Ở Nam Bộ, ta làm chủ 1.100/1.296 xã với 4,5 triệu dân. Ở Khu 5, ta làm chủ 4.440/4.700 thôn với 2 triệu dân. Từng mảng lớn bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền cơ sở các thôn xã bị tan vỡ; đẩy chúng lâm vào thế bị động lúng túng, khủng hoảng trầm trọng.Từ phong trào Đồng Khởi, Đảng bộ miền Nam được khôi phục, đội quân đấu tranh chính trị, đặc biệt là “đội quân tóc dài” của phụ nữ Nam Bộ ra đời. Lực lượng vũ trang ba thứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp từng bước được hình thành. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam thành lập (20/12/1960), các căn cứ địa cách mạng trước đây được khôi phục, mở rộng. Cách mạng miền Nam từ thoái trào, giữ gìn lực lượng, chuyển hẳn sang thế tiến công.Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (1959) cho thấy sự chỉ đạo chiến lược rất đặc sắc, sáng tạo của Đảng ta, thể hiện rõ nét ở những khía cạnh sau:- Thứ nhất, nghị quyết ra đời đúng lúc, đúng thời điểm. Đó là khi Mỹ - Diệm lộ rõ dã tâm phá hoại Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, muốn chia cắt lâu dài nước ta. Chúng tiến hành khủng bố, đàn áp dã man khiến đồng bào ta ở miền Nam không thể chịu đựng sống như cũ được nữa, mâu thuẫn giữa đông đảo nhân dân miền Nam với tập đoàn Mỹ - Diệm cực kỳ sâu sắc.- Thứ hai, nghị quyết chủ trương phát động khởi nghĩa từng phần, lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu, bằng lực lượng quần chúng tại chỗ là chủ yếu. Điều này rất phù hợp với năng lực cách mạng của nhân dân miền Nam lúc đó. Đây cũng là điểm khác biệt so với việc mở đầu toàn quốc kháng chiến trong thời kỳ chống thực dân Pháp (ta phát động chiến tranh toàn quốc, mở đầu lấy đấu tranh quân sự ở mặt trận đô thị làm chính).- Thứ ba, nghị quyết khẳng định cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam do nhân dân miền Nam trực tiếp thực hiện. Đây là một bất ngờ lớn đối với Mỹ - Diệm vì trước đó, hướng đề phòng chính của chúng là một cuộc tiến công quân sự từ miền Bắc vào qua vĩ tuyến 17. Chúng còn cho rằng lực lượng cách mạng ở miền Nam đã bị tiêu diệt nên không lường được một cuộc nổi dậy rộng lớn của quần chúng tại chỗ. Do đó, khi nhân dân ta ở miền Nam nổi dậy đồng loạt, Mỹ - Diệm đối phó bị động, lúng túng.- Thứ tư, trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào miền Nam, Mỹ - Diệm phải từ bỏ ý định “Bắc tiến” (mở rộng chiến tranh ra miền Bắc), mà buộc phải quay về đối phó với phong trào cách mạng miền Nam. Mặt khác, Mỹ cũng không có cớ để đưa quân viễn chinh vào miền Nam trực tiếp tham chiến. Như vậy, ta đã kiềm chế, tránh không để chiến tranh lan rộng, trở thành chiến tranh khu vực, chiến tranh giữa hai phe. Do đó, ta đã tranh thủ được sự đồng tình và giúp đỡ to lớn của cả Liên Xô, Trung Quốc và nhân dân nhiều nước trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.Những khía cạnh nêu trên không chỉ là khoa học, mà còn là nghệ thuật - nghệ thuật chỉ đạo chiến lược khởi đầu chiến tranh.Nghệ thuật mở đầu chiến tranh độc lập, sáng tạo của Đảng ta để lại nhiều bài học kinh nghiệm, có thể chắt lọc vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.Trước hết, là cần đánh giá đúng tình hình thực tiễn. Khi cách mạng miền Nam lâm vào tình thế khó khăn, hiểm nghèo, Đảng ta đã không rập khuôn máy móc mà xuất phát từ thực tiễn để điều chỉnh phương pháp đấu tranh. Hiện nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc nhận diện đúng, chính xác tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, nhất là trong thời đại chuyển đổi số, cách mạng khoa học - công nghệ 4.0, sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, là điều kiện tiên quyết để đề ra chủ trương, chính sách phù hợp.Hai là, bài học về phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân vẫn mang tính nền tảng. Nghị quyết Trung ương 15 xác định “lấy lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu” đã chứng minh vai trò quyết định của nhân dân trong mọi thắng lợi. Ngày nay, điều đó được thể hiện qua việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sức mạnh xã hội trong phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền, cũng như trong mọi nhiệm vụ khác, như Nghị quyết Đại hội Đảng đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã khẳng định: “Quán triệt quan điểm dân là gốc, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.Ba là, bài học về phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tính sáng tạo, linh hoạt trong chỉ đạo chiến lược. Chủ trương “khởi nghĩa từng phần” cho thấy sự mềm dẻo, không cực đoan, biết lựa chọn bước đi phù hợp với bối cảnh thời đại, phù hợp với tương quan lực lượng địch, ta trong tình hình cụ thể. Trong bối cảnh hiện nay, điều này gợi mở việc kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với quốc phòng - an ninh, giữa hội nhập quốc tế sâu rộng với giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước.Bốn là, bài học về kiềm chế xung đột, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Phát động khởi nghĩa từng phần trong những năm 1959-1960, Đảng ta đã tính đến việc tránh để chiến tranh lan rộng, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới. Trong chính sách đối ngoại hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục chủ trương phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, đó là bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời chủ động, tích cực đóng góp vào hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bên vững trên tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.[1] Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.310.[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20 (1959), tr.82.vov.vn🔗Xem link nguồn