Không có gì quý hơn độc lập, tự do: Nguồn động lực để đất nước vươn mình

Đã 80 năm trôi qua kể từ Cách mạng Tháng Tám, nhưng giá trị lịch sử của sự kiện này và tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập – tự do” được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cách đây gần 60 năm vẫn tiếp tục soi đường cho đất nước trên hành trình Đổi mới, hội nhập và khát vọng vươn mình của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

"Không có gì quý hơn độc lập, tự do" - câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vang lên giữa những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, không chỉ là khẩu hiệu chiến đấu, mà là một định đề chính trị, một hệ giá trị tư tưởng và một bản lĩnh quốc gia. Trong bối cảnh đất nước tiếp tục chuyển mình mạnh mẽ trước làn sóng toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh địa chính trị – địa kinh tế phức tạp, tư tưởng này tiếp tục là nền tảng để định hình đường lối phát triển của Việt Nam hiện đại.


 

Tư tưởng khởi nguồn từ thực tiễn lịch sử và bản lĩnh dân tộc

Không đơn thuần là một khẩu hiệu, câu nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là sự kết tinh của lịch sử dân tộc và tư duy cách mạng Hồ Chí Minh – một tư tưởng được hun đúc từ thực tiễn đau thương, khát vọng giải phóng và tinh thần làm chủ vận mệnh của nhân dân Việt Nam. Trải qua hàng nghìn năm bị đô hộ và chia cắt, dân tộc ta đã khẳng định một chân lý: Quyền được làm chủ vận mệnh dân tộc và quyền sống có phẩm giá là điều thiêng liêng nhất.


 

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã trải qua 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước chính là hiện thân tiêu biểu của tư tưởng đó. Từ bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Versailles năm 1919, cho đến bản “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1945, rồi đến lời hiệu triệu kháng chiến chống Mỹ năm 1966, có thể thấy rằng tư tưởng về độc lập – tự do là trục xuyên suốt, nhất quán và ngày càng được cụ thể hóa theo từng thời kỳ. Chính sự gắn bó giữa lý tưởng và thực tiễn ấy đã tạo nên sức mạnh thuyết phục sâu rộng của tư tưởng Hồ Chí Minh – không chỉ với nhân dân Việt Nam, mà còn với bạn bè quốc tế, những ai yêu chuộng hòa bình và công lý.

Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không chỉ mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa đơn thuần, mà còn thể hiện một tầm nhìn nhân văn, tiến bộ và toàn diện. Hồ Chí Minh không đối lập giữa độc lập dân tộc và tự do cá nhân, ngược lại, Người coi đó là hai mặt của một giá trị thống nhất. Khi khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một quan điểm đi trước thời đại, vượt lên trên nhiều mô hình cách mạng vốn chỉ dừng lại ở thay đổi thể chế mà không đặt con người làm trung tâm.

Trong quan niệm của Người, độc lập không thể tách rời với năng lực làm chủ của mỗi cá nhân – từ sinh kế, tri thức, đến quyền phát triển toàn diện. Tự do không phải là khái niệm trừu tượng mà rất cụ thể: “Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Sự cụ thể ấy chính là điểm khác biệt giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và nhiều lý thuyết mang tính hình thức. Người không chỉ nói về tự do, mà kiến tạo các điều kiện thực chất để nhân dân được sống tự do.

Ngọn cờ tư tưởng trong suốt chiều dài cách mạng

Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành ngọn cờ tư tưởng, kim chỉ nam xuyên suốt chiều dài cách mạng Việt Nam, là động lực và định hướng, dẫn dắt dân tộc ta từ công cuộc giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc đến thời kỳ Đổi mới, hội nhập và khát vọng vươn mình của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Dưới ánh sáng tư tưởng ấy, nhân dân Việt Nam đã làm nên cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, giành độc lập từ tay thực dân Pháp và phát xít Nhật; đã chiến đấu kiên cường suốt ba thập niên để thống nhất đất nước; và tiếp tục vững bước trong công cuộc Đổi mới từ năm 1986 đến nay.

Tư tưởng đó không chỉ là động lực tinh thần, mà còn là điểm tựa để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, xây dựng lực lượng chính trị thống nhất và bền vững, làm nên thắng lợi của mô hình “dân làm gốc”, “lấy dân làm trung tâm”. Đó là nguồn sức mạnh để lớp lớp thanh niên ra trận, để các bà mẹ tiễn con đi chiến đấu mà không đòi hỏi điều kiện nào khác ngoài một khát vọng giản dị: Đất nước được độc lập, nhân dân được tự do.

Trong thế kỷ 21, độc lập và tự do không còn chỉ mang nghĩa chống ngoại xâm hay giữ chủ quyền lãnh thổ. Đó còn là năng lực tự chủ trong phát triển, là quyền hoạch định con đường tương lai của quốc gia trên nền tảng văn hóa, kinh tế, khoa học – công nghệ. Một đất nước độc lập hôm nay là quốc gia có khả năng định hình thể chế của riêng mình, thiết kế chính sách theo lợi ích dân tộc mà không bị lệ thuộc, đồng thời chủ động hội nhập mà không đánh mất bản sắc.

Tự do trong thời đại hiện nay còn gắn liền với tự do tư duy, tự do sáng tạo, tự do khởi nghiệp, tự do học thuật, tự do tiếp cận cơ hội phát triển…, chính là sự tiếp nối và phát triển từ tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập – tự do” của Hồ Chí Minh.


 

80 năm sau Cách mạng Tháng Tám, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập – tự do” vẫn soi đường cho đất nước trên hành trình Đổi mới và hội nhập, hội nhập và phát triển trong kỷ nguyên mới.

Không phải ngẫu nhiên mà Tổng Bí thư Tô Lâm gần đây nhấn mạnh rằng: Phải đột phá thể chế, pháp luật, khơi thông những điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực để đất nước vươn mình. Điều đó cho thấy, tư tưởng độc lập – tự do không chỉ là một lý tưởng tinh thần, mà cần được cụ thể hóa trong khuôn khổ pháp lý, thể chế và chính sách. Cải cách thể chế không đơn thuần là điều chỉnh hành chính, mà là một cuộc giải phóng toàn diện mọi nguồn lực xã hội, tạo điều kiện để mỗi người dân trở thành chủ thể phát triển – đó chính là ý nghĩa sâu xa của tự do trong một nhà nước pháp quyền hiện đại.

Di sản trường tồn mãi mãi

Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chí Minh là di sản quý báu, là nền tảng tư tưởng – lý luận của Đảng và dân tộc ta. Đó là sự kết tinh của lương tri nhân loại và bản lĩnh dân tộc Việt Nam, là ánh sáng đã soi đường cho cách mạng Việt Nam trong cả thời chiến và thời bình. Tư tưởng ấy không chỉ dừng lại ở các bản văn lịch sử, mà đang sống động trong từng chính sách, từng hành động, từng quyết sách của đất nước.

Kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 không chỉ là dịp để ôn lại quá khứ hào hùng, mà còn là cơ hội để soi chiếu hiện tại và định hình tương lai từ những giá trị trường tồn. Một quốc gia hiện đại không thể tách rời tinh thần độc lập dân tộc, cũng như một xã hội văn minh không thể tồn tại nếu thiếu tự do và quyền làm chủ của nhân dân. Vì vậy, tiếp nối và phát triển tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trong điều kiện mới chính là con đường duy nhất để dân tộc Việt Nam phát triển bền vững và khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Theo VOV

Link: https://vov.vn/chinh-tri/khong-co-gi-quy-hon-doc-lap-tu-do-nguon-dong-luc-de-dat-nuoc-vuon-minh-post1225348.vov

Xem nhiều nhất

Suy ngẫm về tư tưởng "lấy dân làm gốc" nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Bác Hồ

Thông tin tuyên truyền 1 ngày trước

Từ những ngày chuẩn bị giành chính quyền, Bác Hồ đã khẳng định chân lý "Nước lấy dân làm gốc". Với Bác, "gốc" chính là tài dân, lực lượng dân, của dân, lòng dân, quyền dân. Người căn dặn: "Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" (1). Tư tưởng ấy được Bác cụ thể hóa bằng những luận điểm giản dị mà thấm thía: "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân...Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân (2).Đặc biệt, Bác luôn coi trọng chính quyền cơ sở - cấp gần dân nhất. Bác yêu cầu tổ chức chính quyền phải gọn nhẹ, rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo và mỗi cán bộ thực sự là "công bộc của dân". Người chỉ rõ tinh, gọn bộ máy là nhằm xây dựng cơ quan nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả, mang lại lợi ích cho đất nước; tránh rườm rà, cồng kềnh, thực hiện chủ trương nhanh, gọn và tiện lợi; góp phần giảm bớt chi phí ngân sách và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân.Bác yêu cầu: "…tổ chức còn kềnh càng, thừa người, phải sắp xếp cho gọn gàng, hợp lý…" (3); "Về biên chế - từ các bộ, các ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và càng ngày càng phình ra. Vì vậy mà sinh ra quan liêu, lãng phí" (4). Người phê phán tình trạng bộ máy cồng kềnh, quan liêu, xa rời thực tiễn, coi đó là một trong những nguyên nhân làm giảm sút hiệu quả quản lý và ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân.Những lời dạy của Bác mãi mãi là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân làm trung tâm. Việc chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hiện thực hóa tư tưởng "gần dân, sát dân" của Bác, đồng thời thể hiện rõ tư duy đổi mới trong quản trị xã hội của Đảng, Nhà nước.Sau gần một năm vận hành, mô hình chính quyền địa phương hai cấp bước đầu phát huy hiệu quả, mang lại những thay đổi rõ nét trong phương thức phục vụ nhân dân. Chính quyền cấp xã không còn là "mắt xích thụ động" trong guồng máy hành chính mà vươn mình thành thực thể tự chủ: tự quyết, tự làm, tự chịu trách nhiệm, chủ động kiến tạo và phục vụ nhân dân ngay từ gốc.Người dân giờ đây không còn phải "chạy sở, đợi huyện". Mô hình "Một cửa, một lần, không trung gian" đã xóa nhòa những quãng đường xa, cắt bớt những ngày chờ đợi. Nền tảng số hóa như cánh tay nối dài, hồ sơ trực tuyến, thanh toán không tiền mặt, làm thủ tục mọi lúc mọi nơi.Có nơi, cán bộ đến tận nhà trả kết quả (mô hình "hai phục vụ" tại xã đảo Minh Châu - Hà Nội) (5); mô hình "Ngày thứ Bảy hành chính lưu động" tại Quảng Ngãi, cán bộ vào tận bản làng vùng sâu để tiếp nhận thủ tục hành chính, hướng dẫn bà con (6). Hình ảnh người cán bộ tận tụy đến từng nhà, từng bản chính là sự cụ thể hóa sinh động nhất lời Bác dạy "Việc lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc hại đến dân, ta phải hết sức tránh".Tại phường An Hải (Hải Phòng), người dân có thể đến bất cứ đơn vị hành chính nào trên địa bàn để giải quyết thủ tục (7); tại phường Hạc Thành (Thanh Hóa), phần lớn hồ sơ được giải quyết trước hạn. Ở Nghệ An (xã Sơn Lâm), ngày trước chuyển nhượng đất cho con phải chạy xe 20km lên huyện, nay chỉ còn chưa đầy 20 phút tại trụ sở xã (8).Tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp về dịch vụ công, thủ tục hành chính tăng lên rõ rệt. Tại Hà Nội tỷ lệ này đạt gần 99% (9), Khánh Hòa 88,24% (10), Hải Phòng 90% hồ sơ trước hạn. Đặc biệt, tại Đặc khu Phú Quý (Lâm Đồng) có tới 99,94% hồ sơ giải quyết đúng hạn. Tại Đà Nẵng, kết quả khảo sát ghi nhận hoạt động Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã hiệu quả, đáp ứng đúng mục tiêu, yêu cầu (11). Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh/thành khác đang tổ chức thăm dò dư luận đối với hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương hai cấp (12).Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi còn gặp những khó khăn, vướng mắc nhất định. Áp lực công việc của cán bộ, công chức cấp xã tăng lên đáng kể. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở nhiều nơi vừa thừa vừa thiếu. Nhiều cán bộ không có chuyên môn sâu ở các lĩnh vực được phân công, đặc biệt thiếu cán bộ có chuyên môn về công nghệ thông tin, chuyển đổi số.Hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ. Một số lĩnh vực chưa có quy trình, thủ tục được ban hành kịp thời. Một bộ phận cán bộ còn lúng túng, làm việc cầm chừng. Chế độ phụ cấp chưa theo kịp, ảnh hưởng nhất định đến tâm tư và sự gắn bó lâu dài của đội ngũ cán bộ cơ sở.Để lời Bác dạy thấm sâu hơn nữa, thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền một cách rõ ràng - rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cấp xã, coi đây là khâu đột phá. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, giúp giảm thời gian và chi phí, đồng thời tăng tính minh bạch, chống tiêu cực.Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở, bởi như Bác đã dạy: "Dân chúng trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh, có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn... Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân" (13).Cùng với đó, cần tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân theo chuẩn mực "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" - đó chính là nền tảng vững chắc để cán bộ cơ sở vượt qua áp lực.Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, chúng ta không chỉ dâng lên Người những lời ca, những bông hoa tươi thắm, mà còn dâng lên những thành quả cách hành chính - một nền hành chính thực sự của dân, do dân và vì dân. Và quan trọng hơn cả, đó là một thông điệp xuyên suốt: Cải cách bộ máy không phải đích đến mà chỉ là phương tiện để phục vụ nhân dân, để dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ghi chú:1 Nguyễn Thanh Tú (2026), Tư tưởng lấy dân làm gốc của Bác Hồ soi sáng hôm nay, https://www.hcmcpv.org.vn, ngày 10/2/2026.2 Bùi Đình Phong (2020), Tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” soi sáng công tác dân vận hiện nay, https://hochiminh.vn, ngày 13/10/2020.3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.432.4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 13, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.314.5 Báo Hà Nội online (2026), Hà Nội triển khai chính quyền hai cấp gần dân, minh bạch, hiệu quả, https://hanoionline.vn, tháng 11/2025.6 Chu Thanh Vân (2026), Tiếp tục gỡ nút thắt để chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động thông suốt, https://www.vietnamplus.vn, ngày 3/5/2026.7,8 Báo Nhân Dân điện tử (2026), Chính quyền địa phương hai cấp: Bước chuyểnđể phục vụ người dân tốt hơn, https://special.nhandan.vn, Truy cập ngày 7/5/2026.9 Huy Kiên, Lê Hải (2026), Nâng cao chất lượng cải cách hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp, https://hanoi.gov.vn, ngày 7/4/2026.10 Nguyễn Vũ (2026), Cải thiện SIPAS, hướng tới “rất hài lòng”, https://baokhanhhoa.vn, ngày 4/5/2026.11 Hàn Giang (2026), Một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp: Nhìn từ hiệu quả cung cấp dịch vụ hành chính công, https://baodanang.vn, ngày 7/5/2026.12 Tiến Long (2026), TP.HCM lấy ý kiến người dân về hiệu quả vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, https://tuoitre.vn, ngày 6/5/2026.13 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.668.vov.vn🔗Xem link nguồn