Trưởng công an cấp xã mới sẽ có thẩm quyền xử phạt như trưởng công an huyện

Chính phủ đề xuất cho phép trưởng công an xã (mới) có thẩm quyền xử phạt theo thẩm quyền của trưởng công an cấp huyện; chủ tịch UBND cấp xã (mới) có thẩm quyền xử phạt như chủ tịch UBND cấp huyện.

Sáng 15/5, Chính phủ trình Quốc hội tờ trình Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính theo chương trình nghị sự.

Đây là dự án luật có nhiều quy định liên quan trực tiếp đến tổ chức chính quyền địa phương và bộ máy của các cơ quan, đặc biệt là quy định về thẩm quyền trong xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh; thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính...

Do đó, theo Chính phủ, cần phải khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan của Luật để phù hợp với chủ trương của Đảng về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định bị tác động trực tiếp bởi việc sắp xếp, tổ chức bộ máy.

bqbht_br_bht-tv-logo-goc.jpg

Ảnh minh họa.

Theo đó, dự thảo luật sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo hướng quy định chung cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là cấp trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị, thay vì quy định các chức danh cụ thể như hiện nay.

Dự thảo luật cũng sửa đổi, bổ sung một số quy định hiện hành nhằm làm rõ hơn việc xử lý vi phạm hành chính theo phương thức điện tử như: quy định rõ hơn cách thức lập, ký đối với biên bản vi phạm hành chính được lập bằng phương thức điện tử; bổ sung việc gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng phương thức điện tử…

Trên cơ sở kiến nghị của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, dự thảo Luật sửa đổi thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến.

Hướng được Chính phủ đề xuất là quy định thời hiệu cụ thể là 6 tháng kể từ ngày cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt nhận được hồ sơ vụ vi phạm, đồng thời giới hạn tối đa không quá 3 năm kể từ thời điểm kết thúc hành vi vi phạm hoặc thời điểm phát hiện hành vi vi phạm, nhằm hạn chế việc ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức.

Dự thảo luật cũng bổ sung mức phạt tiền tối đa của một số lĩnh vực như khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; công nghiệp công nghệ số; dữ liệu; bảo vệ dữ liệu cá nhân; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo…

Đáng lưu ý, dự thảo luật lần này bổ sung quy định cụ thể những trường hợp cho phép bán ngay tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ.

Quy định này đi kèm với các điều kiện như: thời hạn sử dụng dưới 6 tháng tính từ thời điểm hết thời hạn tạm giữ; dễ bị hư hỏng, suy giảm chất lượng nếu không được bảo quản theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật; có nguy cơ gây cháy nổ, ô nhiễm môi trường hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng...

Theo Chính phủ, quy định này nhằm khắc phục tình trạng tồn đọng, quá tải trong bảo quản, quản lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, đồng thời giúp tránh thất thoát, lãng phí tài sản.

Trong quy định điều khoản chuyển tiếp, dự thảo luật cho phép trưởng công an xã (mới) có thẩm quyền xử phạt theo thẩm quyền của trưởng công an cấp huyện; chủ tịch UBND cấp xã (mới) có thẩm quyền xử phạt theo thẩm quyền của chủ tịch UBND cấp huyện.

Chính phủ lý giải, việc trao thẩm quyền cao hơn cho lực lượng ở cấp xã (mới) là giải pháp cần thiết, phù hợp với giai đoạn chuyển tiếp, khi các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước chưa kịp sửa đổi, bổ sung theo quy định của dự thảo Luật.

Ngoài ra, các quy định trên cũng thể hiện rõ chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý Nhà nước, đặc biệt là trong xử lý vi phạm hành chính, từ đó trao quyền và gắn với trách nhiệm cho chính quyền, lực lượng chức năng ở cấp cơ sở thường xuyên phát hiện, tiếp xúc, xử lý các hành vi vi phạm phát sinh trên địa bàn.

Dự kiến, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính sẽ được Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 9.

 

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Khát vọng tự cường: Từ cách mạng Tháng Tám đến Kỷ nguyên vươn mình

Thông tin tuyên truyền 1 ngày trước

Những ngày tháng Tám lịch sử này, tròn 80 năm đất nước có độc lập, tự do, chúng ta đã và đang chứng kiến những thời khắc vô cùng thiêng liêng. Khắp các nẻo đường Tổ quốc, đâu đâu cũng nhuộm đỏ màu cờ. Khắp các diễn đàn mạng, người Việt Nam thể hiện lòng yêu nước của mình theo những cách khác nhau. Nhưng tựu chung lại, chúng ta nhìn thấy ở đó lòng tự hào, thấy niềm tin, ý chí và tinh thần tự lực, tự cường dân tộc. Tinh thần ấy được tiếp nối từ mạch nguồn lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Tinh thần ấy thể hiện trọn vẹn trong cách mạng Tháng Tám 1945 và chắc chắn sẽ được phát huy trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.Hợp luyện diễu binh, diễu  hành tại Hà Nội ngày 24/8. Ảnh: Quang TrungSức mạnh nội lực to lớn từ Cách mạng Tháng TámThượng tướng, PGS-TS Nguyễn Văn Thành- Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương nhìn thấy sức mạnh tinh thần, sức mạnh nội lực to lớn từ Cách mạng Tháng Tám. Theo ông, sự thống nhất biện chứng giữa truyền thống yêu nước với lý tưởng cách mạng tiên tiến, giữa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân với vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng, giữa khát vọng độc lập với năng lực hành động tập thể chủ động, tự lực, sáng tạo.... Đó là một nội lực có tính nền tảng, vừa bền vững, vừa có khả năng thích ứng với mọi hoàn cảnh lịch sử, trở thành cội nguồn tinh thần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của dân tộc không chỉ trong quá khứ, mà còn trong hiện tại và tương lai.Cốt lõi của sức mạnh ấy là tinh thần yêu nước nồng nàn, khát vọng độc lập tự do, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng - những yếu tố đã từng tạo nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. “Từ sức mạnh tinh thần ấy, cách mạng Việt Nam đã từng bước đi qua “kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930 - 1975); kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới (1975 - 2025). Và giờ đây, chúng ta bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khởi đầu bằng sự kiện trọng đại - Đại hội XIV của Đảng”- PGS-TS Nguyễn Văn Thành khẳng định.Cũng theo PGS-TS Nguyễn Văn Thành, yêu nước không đơn thuần là lòng trung thành, tình cảm gắn bó với đất nước, mà đã trở thành một sức mạnh tinh thần bền bỉ, thôi thúc toàn dân đứng lên làm chủ vận mệnh. Tinh thần này vốn được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhưng đã được nâng lên tầm cao mới trong Cách mạng Tháng Tám, trở thành mục tiêu, động lực, kết tinh lý tưởng cách mạng và hành động thực tiễn. Đó là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam trong mọi hoàn cảnh đều kiên trì, bền bỉ vượt qua mọi thử thách, tạo nên những kỳ tích lịch sử - từ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, đồng thời làm nên những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước.Thượng tướng, PGS-TS Nguyễn Văn Thành- Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương. Ảnh: TTXVN Trong bối cảnh hiện nay, PGS-TS Nguyễn Văn Thành khẳng định, tinh thần yêu nước tiếp tục là điểm tựa tinh thần vững chắc, định hướng tư tưởng và hành động cho toàn xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Đại hội XIII đã xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây vừa là yêu cầu thời đại, vừa là minh chứng cho giá trị vững bền của tinh thần Cách mạng Tháng Tám trong kỷ nguyên mới.Cách mạng Tháng Tám đã khẳng định tinh thần chủ động, sáng tạo, vượt khó của dân tộc - không chờ đợi mà biết nắm bắt và tạo thời cơ để thay đổi vận mệnh đất nước. Từ đó, hình thành một phương châm hành động xuyên suốt: Không dựa dẫm, không phụ thuộc, mà kiên trì vươn lên bằng chính nội lực. “Ngày nay, trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế sâu rộng, tinh thần ấy càng có ý nghĩa quyết định, nhất là trong hoạch định và thực thi quyết sách phát triển đất nước. Đó là cơ sở để Đảng và Nhà nước kiên định con đường phát triển độc lập, tự chủ gắn với hội nhập, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc trong mọi hoàn cảnh” - PGS-TS Nguyễn Văn Thành khẳng định.Độc lập về chính trị và độc lập về kinh tếTheo Đại tá, TS Phạm Duyên Minh - Chủ nhiệm khoa Kinh tế chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị (Bộ Quốc phòng), bài học đầu tiên và mang tính nguyên tắc cốt lõi từ Cách mạng Tháng Tám là sự khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa độc lập về chính trị và độc lập về kinh tế. Lịch sử đã chứng minh rằng, dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, một quốc gia dù có tài nguyên phong phú đến đâu cũng không thể phát triển kinh tế vì lợi ích của chính dân tộc mình. Mọi nỗ lực sản xuất, mọi nguồn lực đều bị kiểm soát, khai thác và chuyển hướng để phục vụ cho lợi ích của mẫu quốc, biến nền kinh tế thuộc địa thành công cụ bóc lột và kìm hãm sự phát triển nội tại. Nền kinh tế Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám với những chính sách độc quyền và vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp, là một minh chứng bi hùng cho thực tế này.Chỉ khi giành được độc lập chính trị thông qua thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân Việt Nam mới thực sự trở thành chủ nhân của đất nước, nắm trong tay quyền tự quyết vận mệnh quốc gia. Chủ quyền chính trị vững chắc đã tạo ra tiền đề pháp lý và điều kiện tiên quyết để Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể tự quyết định đường lối, chính sách phát triển kinh tế, không còn bị chèn ép, kiểm soát hay chi phối bởi các thế lực ngoại bang.Trong bối cảnh mới, việc giữ vững độc lập chính trị vẫn là nguyên tắc tối thượng để đảm bảo độc lập, tự chủ về kinh tế. Việt Nam cần tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và ổn định chính trị - xã hội. Sự ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết để tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút các nguồn lực phát triển, đồng thời là “bức tường thành” vững chắc để ứng phó với mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây rối từ bên ngoài và bên trong, vốn thường nhắm vào việc phá hoại kinh tế để làm suy yếu chế độ.Không thể tách rời giữa độc lập về chính trị và độc lập về kinh tế“Chúng ta phải luôn nhận thức rằng, mọi sự đánh đổi độc lập, chủ quyền chính trị để lấy lợi ích kinh tế trước mắt đều sẽ dẫn đến những hệ lụy khôn lường về lâu dài, làm mất đi khả năng tự chủ của đất nước”- Đại tá, TS Phạm Duyên Minh khẳng định như vậy, đồng thời cho rằng: Trong giai đoạn hiện nay, phát huy nội lực vẫn là nguyên tắc chiến lược hàng đầu để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Điều này đòi hỏi tập trung vào việc phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, xem đây là động lực chính của tăng trưởng. Cần đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục - đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đồng thời, cần khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần doanh nghiệp, sức sáng tạo và khát vọng làm giàu chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân. Chủ động về nguồn nguyên liệu, công nghệ, và phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp phụ trợ là thiết yếu để giảm thiểu sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược và quốc phòng. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước, bao gồm cả nguồn lực tài chính, đất đai và lao động, là chìa khóa để xây dựng một nền kinh tế có khả năng tự chủ caoNgười dân hân hoan trong dịp Đại lễ mừng Quốc khánh 2/9 năm nay. Việt Nam thênh thang đường lớn bước vào kỷ nguyên mớiTrung tướng, PGS-TS Phan Danh Tuy  - Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân thì cho rằng, trong tình hình hiện nay, nước ta đang đứng trước thời cơ “đi tắt đón đầu”, “đi sau về trước”, tạo sự phát triển vượt bậc ở một tầm cao mới, trình độ mới, chất lượng mới, xác lập vị thế quốc gia trên trường quốc tế, tạo nền tảng cho bước phát triển đột phá kế tiếp. Việt Nam thênh thang đường lớn bước vào kỷ nguyên mới với tư thế tự tin, sinh lực dồi dào và tràn đầy bản lĩnh. Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam có nhiều thời kỳ phát triển rực rỡ nhưng chưa bao giờ phong độ của quốc gia, vị thế của dân tộc có được như bây giờ.“Để tránh nguy cơ tụt hậu, tận dụng thời cơ, tranh thủ tối đa nguồn lực, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Đảng ta đã đề ra 7 định hướng lớn đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, gồm cải tiến phương thức lãnh đạo của Đảng; tăng cường tính đảng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tinh gọn tổ chức bộ máy; chuyển đổi số; chống lãng phí; đội ngũ cán bộ đủ năng lực và phát triển kinh tế.Trung tướng, PGS-TS Phan Danh Tuy nhận định: Cuộc cách mạng chỉ có thể thành công khi toàn thể dân tộc, không phân biệt tầng lớp, giai cấp, tôn giáo, đều tập hợp dưới ngọn cờ Mặt trận Việt Minh - hình mẫu đầu tiên của tư tưởng “đại đoàn kết toàn dân tộc”, một giá trị có tính bền vững trong lý luận và thực tiễn chính trị Việt Nam. Một trong những điểm sáng lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám là khả năng tập hợp các tầng lớp nhân dân trong một mặt trận thống nhất. Đây là mẫu hình điển hình của chiến lược “đại đoàn kết toàn dân tộc” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn đề cao.Trong bối cảnh đất nước ta đang tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ  nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, bài học từ Cách mạng Tháng Tám vẫn mang giá trị thời sự to lớn. Muốn phát triển nhanh và bền vững đất nước, Việt Nam cần tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy tinh thần độc lập dân tộc, chủ động, sáng tạo trong hội nhập, không ngừng đổi mới tư duy, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu. Chỉ khi làm được như vậy, chúng ta mới xứng đáng với thế hệ cha anh đã làm nên mùa thu Tháng Tám lịch sử và đưa Việt Nam tiến bước vững chắc trên con đường xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.Các ý kiến trên được trích dẫn trong tham luận gửi tới hội thảo khoa học "Sức mạnh chính trị, tinh thần của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong kỷ nguyên mới" diễn ra tại Hà Nội 7/8/2025.