Khát vọng tự cường: Từ cách mạng Tháng Tám đến Kỷ nguyên vươn mình

Trong bối cảnh đất nước ta đang tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, bài học từ Cách mạng Tháng Tám vẫn mang giá trị thời sự to lớn.

Những ngày tháng Tám lịch sử này, tròn 80 năm đất nước có độc lập, tự do, chúng ta đã và đang chứng kiến những thời khắc vô cùng thiêng liêng. Khắp các nẻo đường Tổ quốc, đâu đâu cũng nhuộm đỏ màu cờ. Khắp các diễn đàn mạng, người Việt Nam thể hiện lòng yêu nước của mình theo những cách khác nhau. Nhưng tựu chung lại, chúng ta nhìn thấy ở đó lòng tự hào, thấy niềm tin, ý chí và tinh thần tự lực, tự cường dân tộc. Tinh thần ấy được tiếp nối từ mạch nguồn lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Tinh thần ấy thể hiện trọn vẹn trong cách mạng Tháng Tám 1945 và chắc chắn sẽ được phát huy trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Sức mạnh nội lực to lớn từ Cách mạng Tháng Tám

Thượng tướng, PGS-TS Nguyễn Văn Thành- Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương nhìn thấy sức mạnh tinh thần, sức mạnh nội lực to lớn từ Cách mạng Tháng Tám. Theo ông, sự thống nhất biện chứng giữa truyền thống yêu nước với lý tưởng cách mạng tiên tiến, giữa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân với vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng, giữa khát vọng độc lập với năng lực hành động tập thể chủ động, tự lực, sáng tạo.... Đó là một nội lực có tính nền tảng, vừa bền vững, vừa có khả năng thích ứng với mọi hoàn cảnh lịch sử, trở thành cội nguồn tinh thần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của dân tộc không chỉ trong quá khứ, mà còn trong hiện tại và tương lai.

Cốt lõi của sức mạnh ấy là tinh thần yêu nước nồng nàn, khát vọng độc lập tự do, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng - những yếu tố đã từng tạo nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

 

“Từ sức mạnh tinh thần ấy, cách mạng Việt Nam đã từng bước đi qua “kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930 - 1975); kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới (1975 - 2025). Và giờ đây, chúng ta bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khởi đầu bằng sự kiện trọng đại - Đại hội XIV của Đảng”- PGS-TS Nguyễn Văn Thành khẳng định.

Cũng theo PGS-TS Nguyễn Văn Thành, yêu nước không đơn thuần là lòng trung thành, tình cảm gắn bó với đất nước, mà đã trở thành một sức mạnh tinh thần bền bỉ, thôi thúc toàn dân đứng lên làm chủ vận mệnh. Tinh thần này vốn được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhưng đã được nâng lên tầm cao mới trong Cách mạng Tháng Tám, trở thành mục tiêu, động lực, kết tinh lý tưởng cách mạng và hành động thực tiễn. Đó là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc Việt Nam trong mọi hoàn cảnh đều kiên trì, bền bỉ vượt qua mọi thử thách, tạo nên những kỳ tích lịch sử - từ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, đồng thời làm nên những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước.

 

Trong bối cảnh hiện nay, PGS-TS Nguyễn Văn Thành khẳng định, tinh thần yêu nước tiếp tục là điểm tựa tinh thần vững chắc, định hướng tư tưởng và hành động cho toàn xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Đại hội XIII đã xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây vừa là yêu cầu thời đại, vừa là minh chứng cho giá trị vững bền của tinh thần Cách mạng Tháng Tám trong kỷ nguyên mới.

Cách mạng Tháng Tám đã khẳng định tinh thần chủ động, sáng tạo, vượt khó của dân tộc - không chờ đợi mà biết nắm bắt và tạo thời cơ để thay đổi vận mệnh đất nước. Từ đó, hình thành một phương châm hành động xuyên suốt: Không dựa dẫm, không phụ thuộc, mà kiên trì vươn lên bằng chính nội lực. “Ngày nay, trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế sâu rộng, tinh thần ấy càng có ý nghĩa quyết định, nhất là trong hoạch định và thực thi quyết sách phát triển đất nước. Đó là cơ sở để Đảng và Nhà nước kiên định con đường phát triển độc lập, tự chủ gắn với hội nhập, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc trong mọi hoàn cảnh” - PGS-TS Nguyễn Văn Thành khẳng định.

Độc lập về chính trị và độc lập về kinh tế

Theo Đại tá, TS Phạm Duyên Minh - Chủ nhiệm khoa Kinh tế chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị (Bộ Quốc phòng), bài học đầu tiên và mang tính nguyên tắc cốt lõi từ Cách mạng Tháng Tám là sự khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa độc lập về chính trị và độc lập về kinh tế. Lịch sử đã chứng minh rằng, dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, một quốc gia dù có tài nguyên phong phú đến đâu cũng không thể phát triển kinh tế vì lợi ích của chính dân tộc mình. Mọi nỗ lực sản xuất, mọi nguồn lực đều bị kiểm soát, khai thác và chuyển hướng để phục vụ cho lợi ích của mẫu quốc, biến nền kinh tế thuộc địa thành công cụ bóc lột và kìm hãm sự phát triển nội tại. Nền kinh tế Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám với những chính sách độc quyền và vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp, là một minh chứng bi hùng cho thực tế này.

Chỉ khi giành được độc lập chính trị thông qua thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân Việt Nam mới thực sự trở thành chủ nhân của đất nước, nắm trong tay quyền tự quyết vận mệnh quốc gia. Chủ quyền chính trị vững chắc đã tạo ra tiền đề pháp lý và điều kiện tiên quyết để Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể tự quyết định đường lối, chính sách phát triển kinh tế, không còn bị chèn ép, kiểm soát hay chi phối bởi các thế lực ngoại bang.

Trong bối cảnh mới, việc giữ vững độc lập chính trị vẫn là nguyên tắc tối thượng để đảm bảo độc lập, tự chủ về kinh tế. Việt Nam cần tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và ổn định chính trị - xã hội. Sự ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết để tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút các nguồn lực phát triển, đồng thời là “bức tường thành” vững chắc để ứng phó với mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây rối từ bên ngoài và bên trong, vốn thường nhắm vào việc phá hoại kinh tế để làm suy yếu chế độ.

“Chúng ta phải luôn nhận thức rằng, mọi sự đánh đổi độc lập, chủ quyền chính trị để lấy lợi ích kinh tế trước mắt đều sẽ dẫn đến những hệ lụy khôn lường về lâu dài, làm mất đi khả năng tự chủ của đất nước”- Đại tá, TS Phạm Duyên Minh khẳng định như vậy, đồng thời cho rằng: Trong giai đoạn hiện nay, phát huy nội lực vẫn là nguyên tắc chiến lược hàng đầu để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Điều này đòi hỏi tập trung vào việc phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, xem đây là động lực chính của tăng trưởng. Cần đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục - đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đồng thời, cần khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần doanh nghiệp, sức sáng tạo và khát vọng làm giàu chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân. Chủ động về nguồn nguyên liệu, công nghệ, và phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp phụ trợ là thiết yếu để giảm thiểu sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược và quốc phòng. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước, bao gồm cả nguồn lực tài chính, đất đai và lao động, là chìa khóa để xây dựng một nền kinh tế có khả năng tự chủ cao

Việt Nam thênh thang đường lớn bước vào kỷ nguyên mới

Trung tướng, PGS-TS Phan Danh Tuy  - Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân thì cho rằng, trong tình hình hiện nay, nước ta đang đứng trước thời cơ “đi tắt đón đầu”, “đi sau về trước”, tạo sự phát triển vượt bậc ở một tầm cao mới, trình độ mới, chất lượng mới, xác lập vị thế quốc gia trên trường quốc tế, tạo nền tảng cho bước phát triển đột phá kế tiếp. Việt Nam thênh thang đường lớn bước vào kỷ nguyên mới với tư thế tự tin, sinh lực dồi dào và tràn đầy bản lĩnh. Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam có nhiều thời kỳ phát triển rực rỡ nhưng chưa bao giờ phong độ của quốc gia, vị thế của dân tộc có được như bây giờ.

“Để tránh nguy cơ tụt hậu, tận dụng thời cơ, tranh thủ tối đa nguồn lực, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Đảng ta đã đề ra 7 định hướng lớn đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, gồm cải tiến phương thức lãnh đạo của Đảng; tăng cường tính đảng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tinh gọn tổ chức bộ máy; chuyển đổi số; chống lãng phí; đội ngũ cán bộ đủ năng lực và phát triển kinh tế.

Trung tướng, PGS-TS Phan Danh Tuy nhận định: Cuộc cách mạng chỉ có thể thành công khi toàn thể dân tộc, không phân biệt tầng lớp, giai cấp, tôn giáo, đều tập hợp dưới ngọn cờ Mặt trận Việt Minh - hình mẫu đầu tiên của tư tưởng “đại đoàn kết toàn dân tộc”, một giá trị có tính bền vững trong lý luận và thực tiễn chính trị Việt Nam. Một trong những điểm sáng lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám là khả năng tập hợp các tầng lớp nhân dân trong một mặt trận thống nhất. Đây là mẫu hình điển hình của chiến lược “đại đoàn kết toàn dân tộc” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn đề cao.

Trong bối cảnh đất nước ta đang tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ  nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, bài học từ Cách mạng Tháng Tám vẫn mang giá trị thời sự to lớn. Muốn phát triển nhanh và bền vững đất nước, Việt Nam cần tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy tinh thần độc lập dân tộc, chủ động, sáng tạo trong hội nhập, không ngừng đổi mới tư duy, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu. Chỉ khi làm được như vậy, chúng ta mới xứng đáng với thế hệ cha anh đã làm nên mùa thu Tháng Tám lịch sử và đưa Việt Nam tiến bước vững chắc trên con đường xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.

Các ý kiến trên được trích dẫn trong tham luận gửi tới hội thảo khoa học "Sức mạnh chính trị, tinh thần của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong kỷ nguyên mới" diễn ra tại Hà Nội 7/8/2025.

Xem nhiều nhất

Nghị quyết 57 - Nghĩ xa, làm lớn cho một Việt Nam hùng cường

Thông tin tuyên truyền 1 ngày trước

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác định một cuộc cải cách toàn diện nhằm hình thành mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, đồng thời đặt nền tảng quản trị quốc gia hiện đại.Để triển khai Nghị quyết 57 một cách thực chất, lần đầu tiên, Việt Nam thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trực thuộc Bộ Chính trị.Trong một năm, Thường trực Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc đã tổ chức hơn 30 cuộc họp, ban hành 30 thông báo kết luận và hàng trăm báo cáo phục vụ điều hành. Mỗi cuộc làm việc đều đi sâu phân tích, “mổ xẻ”, tháo gỡ từng điểm nghẽn, xác định trách nhiệm đến từng cá nhân, từng đơn vị, chỉ đạo quyết liệt từng mảng việc.“Các điểm nghẽn được xác định thông qua việc thu thập các thông tin từ dưới cơ sở cũng như người làm chính sách. Từ đó lập ra cơ chế tổ công tác để xử lý một cách thấu đáo các điểm nghẽn một cách liên ngành. Sau đó sẽ cụ thể hóa bằng các thể chế”, PGS.TS Tạ Hải Tùng, Hiệu trưởng Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Bách khoa Hà Nội nhận xét.Hơn 20 vấn đề, điểm nghẽn liên ngành, liên lĩnh vực đã được tháo gỡ, từ thể chế, tài chính; hạ tầng số, dữ liệu; dịch vụ công; công nghệ chiến lược, đến mô hình “3 nhà: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp”, an ninh mạng và nhân lực số. Thực tiễn cho thấy, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không thể xử lý rời rạc, mà cần một cuộc chuyển đổi sâu rộng, toàn diện của cả hệ thống chính trị.Cũng bởi tính toàn diện và sự ảnh hưởng sâu rộng đó, Nghị quyết 57 không tách rời, mà liên kết chặt chẽ với các Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, xây dựng pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân, an ninh năng lượng và phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Sự đồng bộ đó tạo thành một hệ mục tiêu thống nhất, để mọi chủ thể cùng hành động, cùng tạo ra kết quả.Quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và các giải pháp được đề ra tại Nghị quyết 57 đã được cụ thể hóa thành 1.298 nhiệm vụ trọng tâm của năm 2025, giao cho từng bộ, ngành, địa phương thực hiện. Các nhiệm vụ đều có các mốc thời gian, theo dõi tiến độ, kiểm đếm kết quả và gắn trách nhiệm của người đứng đầu, với yêu cầu “rõ việc - rõ trách nhiệm - rõ thời hạn - rõ kết quả”.Đây là lí do Hệ thống thông tin giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 57 ra đời. Hệ thống được thiết kế trên cơ sở Bộ Chỉ số đa tầng, bao gồm nhóm chỉ số chiến lược và nhóm chỉ số tác nghiệp tạo thành một khung thống nhất. Mục tiêu là để đo lường toàn diện, khách quan tiến độ, kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết 57. Ban Chỉ đạo có thể theo dõi tiến độ và mức độ hoàn thành từng nhiệm vụ cụ thể theo thời gian thực từ cấp Trung ương cho tới tận từng xã phường.“Lần đầu tiên có một Nghị quyết của Bộ Chính trị được ứng dụng công nghệ số để theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện. Từ đó phân bổ nguồn lực, điều chỉnh lại cách làm, gần như không có thời gian chờ, thời gian trễ”, ông Đỗ Công Anh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu, Văn Phòng Trung ương Đảng đánh giá.Nhờ sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Ban Chỉ đạo và nỗ lực của cả hệ thống chính trị, việc triển khai Nghị quyết 57 đã ghi nhận những kết quả rõ nét ngay trong năm đầu tiên triển khai.Từ 1/7/2025, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được vận hành trên cả nước, đánh dấu mốc lịch sử cho một giai đoạn mới. Để thực hiện thành công mô hình này, chuyển đổi số được ví như “hệ thần kinh trung ương”, là cầu nối sống còn giữa tỉnh và xã.Chuyển đổi số là điều kiện then chốt để triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Hiện đã có 18 địa phương đã thực hiện 100% thủ tục không phụ thuộc địa giới hành chính, giúp người dân tiết kiệm được nhiều công sức và thời gian đi lại, chờ đợi, khi họ có thể làm thủ tục tại bất cứ trung tâm dịch vụ công nào gần nhất.Cho tới nay, 100% công dân Việt Nam đã có mã định danh; hơn 87 triệu căn cước gắn chip được cấp; 67 triệu tài khoản VNeID đã kích hoạt; 50 tiện ích và 12 loại giấy tờ thiết yếu như căn cước công dân, giấy phép lái xe, đăng ký xe, bảo hiểm y tế… đã được tích hợp lên ứng dụng VNeID.Đặc biệt, từ ngày 1/10/2025, người dân thực hiện 25 dịch vụ công thiết yếu không phải nộp giấy tờ, nhờ dữ liệu đã được tích hợp sẵn trên VNeID. Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến trên nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư dự kiến giúp tiết kiệm khoảng 2.500 tỷ đồng mỗi năm.Năm 2025, Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), dẫn đầu nhóm nước thu nhập trung bình thấp. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo đứng thứ 55 toàn cầu, thứ 5 ASEAN. Năm 2025 cả nước có thêm 42 doanh nghiệp khoa học công nghệ.Kinh tế tư nhân được thúc đẩy mạnh mẽ, doanh nghiệp tư nhân trở thành lực lượng tiên phong của đổi mới sáng tạo. Dòng vốn tư nhân tăng mạnh khi 2,3 tỷ USD được rót vào 141 thương vụ trong năm. Hệ sinh thái đầu tư mạo hiểm mở rộng với 72 quỹ.Ông Gunish Chawla, Giám đốc điều hành Khu vực thương mại, AWS ASEAN đánh giá, hạ tầng số của Việt Nam đã cho thấy sự tăng trưởng ấn tượng những năm qua. Điều này có được là nhờ các chính sách của Chính phủ cũng như sự đầu tư của khối tư nhân, thúc đẩy kết nối Internet tốc độ cao. Tất cả những điều này sẽ giúp cho cả doanh nghiệp trong và ngoài nước có thể dễ dàng xâm nhập vào thị trường công nghệ Việt Nam.Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, năm 2025 hoàn thành giai đoạn “khởi động, chạy đà”, năm 2026 phải chuyển ngay sang “tăng tốc”. Điều quyết định trong giai đoạn này là năng lực tổ chức thực hiện, là kỷ luật hành động, là kết quả đầu ra.“Mỗi bộ, ngành, địa phương cần chuyển cách làm theo kế hoạch sang cách làm theo mục tiêu và sản phẩm; từ báo cáo tiến độ sang báo cáo về hiệu quả; từ có làm sang phải làm đến nơi, đến chốn, làm đến có kết quả”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh.Triển khai Nghị quyết 57 là quá trình chuyển đổi sâu rộng, tác động tới thể chế, bộ máy và phương thức quản trị của toàn hệ thống. Kết quả cần thời gian để thể chế hóa, vận hành và kiểm chứng, rồi chuyển hóa thành năng suất, giá trị mới cho nền kinh tế.