Sáng nay, khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI

Sáng nay (12/5), Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam lần thứ XI chính thức khai mạc tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội.

Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 được tổ chức trong các ngày 11,12 và 13/5/2026 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội. Chủ đề của Đại hội: “Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển”.

Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031. Ảnh: Quang Vinh

Chiều qua (11/5), Đại hội đã họp phiên trù bị, hiệp thương cử Đoàn Chủ tịch và Đoàn Thư ký của Đại hội; thông qua chương trình, quy chế làm việc của đại hội.

Đại hội đã nghe Báo cáo tình hình đại biểu tham dự Đại hội. Tổng số đại biểu chính thức tham dự đại hội là 1.136 đại biểu.

Trong đó, đại biểu đương nhiên là 362 đại biểu là các Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa X; Đại biểu do Đại hội cấp tỉnh và các tổ chức thành viên chọn cử là 705 đại biểu gồm: 129 đại biểu là các tổ chức thành viên ở Trung ương cử; 576 đại biểu do Đại hội MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố hiệp thương cử.

Đại biểu chỉ định gồm 69 đại biểu là các đại biểu được giới thiệu lần đầu tham gia Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI gồm: 11 đại biểu đại diện tổ chức thành viên; 2 Chủ tịch MTTQ cấp tỉnh; 24 trí thức, chuyên gia; 4 đại biểu đại diện cơ cấu công nhân, nông dân, lực lượng vũ trang; 11 đại biểu là người dân tộc thiểu số; 5 vị chức sắc tôn giáo; 6 vị thuộc các thành phần kinh tế; 1 vị là Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; 5 vị là cán bộ chuyên trách của Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Các đại biểu chính thức đều đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham dự Đại hội theo quy định. Tại phiên làm việc, đại biểu đã nghe Dự thảo Báo cáo kiểm điểm hoạt động của Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam giai đoạn 2024 - 2026.

Báo cáo nhấn mạnh, giai đoạn 2024 - 2026, Ủy ban, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hoàn thành kịp thời, chất lượng, hiệu quả các nhiệm vụ đã được xác định trong nghị quyết Đại hội và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.

Từ kết quả hoạt động trong giai đoạn 2024-2026, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam rút ra các bài học kinh nghiệm:

Một là, phải bám sát sự lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của Đại hội.

Hai là, tập thể Ủy ban, Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực đoàn kết, thống nhất, thực sự tâm huyết, trách nhiệm, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động Mặt trận.

Ba là, phát huy dân chủ trong sinh hoạt của Ủy ban, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường trực là yêu cầu quan trọng, hàng đầu tạo động lực sáng tạo của tổ chức Mặt trận.

Bốn là, luôn gắn bó, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu chính đáng của các tầng lớp nhân dân, quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Năm là, tăng cường phối hợp với các cơ quan Nhà nước để đảm bảo về cơ chế hoạt động hiệu quả; tăng cường hiệp thương, phối hợp, thống nhất hành động với các tổ chức thành viên.

Sáu là, phát huy cao độ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức thành viên, thật sự đổi mới về tư duy và hành động của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đại hội đã nghe Tờ trình sửa đổi, bổ sung Điều lệ MTTQ Việt Nam khóa X. Dự thảo Điều lệ cơ bản giữ nguyên kết cấu của Điều lệ MTTQ Việt Nam hiện hành, gồm Phần đầu, 8 chương, 37 Điều. Giữ nguyên, không sửa đổi 19 Điều do các quy định này đang được thực hiện ổn định và phù hợp với các nội dung của Luật MTTQ Việt Nam (sửa đổi, bổ sung) và các chủ trương của Đảng, Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của MTTQ Việt Nam. Sửa đổi, bổ sung Phần mở đầu và 18 Điều.

Theo chương trình, sáng 12/5, Đại hội sẽ diễn ra phiên khai mạc trọng thể với sự tham dự của các Lãnh đạo, nguyên Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam.

Buổi chiều, các đại biểu thảo luận và thông qua Đề án nhân sự Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031; Hiệp thương cử Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031; Hội nghị Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam lần thứ nhất khoá XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Xem nhiều nhất

Đường tới toàn thắng 30/4/1975: Khởi nghĩa từng phần - bước mở đầu sáng tạo

Thông tin tuyên truyền 1 ngày trước

Tháng 7/1954, ngay sau khi thực dân Pháp ký kết Hiệp định Geneve về Đông Dương, đế quốc Mỹ lập tức nhảy vào “lấp chỗ trống”, tiến hành xâm lược miền Nam Việt Nam. Mỹ dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, ra sức đàn áp phong trào cách mạng.Đến cuối năm 1958, trước sự đàn áp, khủng bố của Mỹ - Diệm, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề, lâm vào tình thế hiểm nghèo: Cả miền Nam tổn thất 9/10 số cán bộ, đảng viên. Ở Nam Bộ, khoảng 7 vạn cán bộ đảng viên ta bị địch giết; gần 90 vạn cán bộ, nhân dân bị địch bắt, bị tù đày; gần 20 vạn bị tra tấn thành tàn tật; chỉ còn khoảng 5.000 đảng viên so với 60.000 đảng viên trước đó. Bến Tre còn 162 đảng viên, Tiền Giang còn 92, Gia Định, Biên Hòa mỗi nơi chỉ còn 1 chi bộ đảng.Ở Khu 5 (lúc đó gồm cả Trị - Thiên và cực Nam Trung Bộ) khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi ủy viên xã bị bắt, bị giết; có tỉnh chỉ còn 2-3 chi bộ, 12 huyện đồng bằng không còn cơ sở đảng. Trị - Thiên chỉ còn 160/23.400 đảng viên trước đó[1].Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975. (Ảnh: TTXVN)Phương pháp đấu tranh hòa bình của cách mạng miền Nam (từ tháng 7/1954 đến thời điểm này) rõ ràng không hiệu quả. Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng ta là phải tìm ra con đường đấu tranh mới, phù hợp để cứu nguy cho cách mạng miền Nam đang lúc "dầu sôi lửa bỏng".Trước yêu cầu thực tiễn cách mạng, đầu năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng được tổ chức tại Hà Nội. Đa số ý kiến đều cho rằng, muốn thống nhất đất nước, thì phải bằng con đường bạo lực cách mạng! Nhưng bạo lực cách mạng như thế nào thì bàn luận rất kỹ lưỡng. Nếu công khai đưa lực lượng vũ trang từ miền Bắc tiến công thì Mỹ sẽ trực tiếp đưa quân tham chiến (như trong chiến tranh Triều Tiên 1950-1953), tình hình sẽ rất khó khăn, chiến tranh có thể lan rộng không thể kiểm soát. Nếu phát động chiến tranh cách mạng tại miền Nam thời điểm này cũng sẽ không thể thành công, vì cả thế và lực của ta còn rất yếu, lực lượng vũ trang tại chỗ của ta hầu như không đáng kể, chưa thể đương đầu với các sư đoàn ngụy quân cùng cỗ máy chiến tranh lớn mạnh của địch.Cuối cùng, Hội nghị quyết định hai vấn đề chính: Một là Cách mạng miền Nam do nhân dân miền Nam trực tiếp thực hiện, có nhiệm vụ nhằm đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm - chế độ tay sai của Mỹ; Hai là phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng: cụ thể là "lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân"[2]. Đó là 2 vấn đề mấu chốt/quan trọng nhất được Hội nghị thông qua, thực chất là phát động cuộc khởi nghĩa từng phần ở miền Nam (trọng điểm ở nông thôn và miền núi).Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 ra đời phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của cán bộ, đồng bào miền Nam, đã thổi bùng lên phong trào Đồng khởi toàn miền Nam (1959-1960). Nhân dân ta đã đứng lên đấu tranh giành quyền làm chủ với mức độ khác nhau: Ở Nam Bộ, ta làm chủ 1.100/1.296 xã với 4,5 triệu dân. Ở Khu 5, ta làm chủ 4.440/4.700 thôn với 2 triệu dân. Từng mảng lớn bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền cơ sở các thôn xã bị tan vỡ; đẩy chúng lâm vào thế bị động lúng túng, khủng hoảng trầm trọng.Từ phong trào Đồng Khởi, Đảng bộ miền Nam được khôi phục, đội quân đấu tranh chính trị, đặc biệt là “đội quân tóc dài” của phụ nữ Nam Bộ ra đời. Lực lượng vũ trang ba thứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp từng bước được hình thành. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam thành lập (20/12/1960), các căn cứ địa cách mạng trước đây được khôi phục, mở rộng. Cách mạng miền Nam từ thoái trào, giữ gìn lực lượng, chuyển hẳn sang thế tiến công.Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (1959) cho thấy sự chỉ đạo chiến lược rất đặc sắc, sáng tạo của Đảng ta, thể hiện rõ nét ở những khía cạnh sau:- Thứ nhất, nghị quyết ra đời đúng lúc, đúng thời điểm. Đó là khi Mỹ - Diệm lộ rõ dã tâm phá hoại Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, muốn chia cắt lâu dài nước ta. Chúng tiến hành khủng bố, đàn áp dã man khiến đồng bào ta ở miền Nam không thể chịu đựng sống như cũ được nữa, mâu thuẫn giữa đông đảo nhân dân miền Nam với tập đoàn Mỹ - Diệm cực kỳ sâu sắc.- Thứ hai, nghị quyết chủ trương phát động khởi nghĩa từng phần, lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu, bằng lực lượng quần chúng tại chỗ là chủ yếu. Điều này rất phù hợp với năng lực cách mạng của nhân dân miền Nam lúc đó. Đây cũng là điểm khác biệt so với việc mở đầu toàn quốc kháng chiến trong thời kỳ chống thực dân Pháp (ta phát động chiến tranh toàn quốc, mở đầu lấy đấu tranh quân sự ở mặt trận đô thị làm chính).- Thứ ba, nghị quyết khẳng định cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam do nhân dân miền Nam trực tiếp thực hiện. Đây là một bất ngờ lớn đối với Mỹ - Diệm vì trước đó, hướng đề phòng chính của chúng là một cuộc tiến công quân sự từ miền Bắc vào qua vĩ tuyến 17. Chúng còn cho rằng lực lượng cách mạng ở miền Nam đã bị tiêu diệt nên không lường được một cuộc nổi dậy rộng lớn của quần chúng tại chỗ. Do đó, khi nhân dân ta ở miền Nam nổi dậy đồng loạt, Mỹ - Diệm đối phó bị động, lúng túng.- Thứ tư, trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào miền Nam, Mỹ - Diệm phải từ bỏ ý định “Bắc tiến” (mở rộng chiến tranh ra miền Bắc), mà buộc phải quay về đối phó với phong trào cách mạng miền Nam. Mặt khác, Mỹ cũng không có cớ để đưa quân viễn chinh vào miền Nam trực tiếp tham chiến. Như vậy, ta đã kiềm chế, tránh không để chiến tranh lan rộng, trở thành chiến tranh khu vực, chiến tranh giữa hai phe. Do đó, ta đã tranh thủ được sự đồng tình và giúp đỡ to lớn của cả Liên Xô, Trung Quốc và nhân dân nhiều nước trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.Những khía cạnh nêu trên không chỉ là khoa học, mà còn là nghệ thuật - nghệ thuật chỉ đạo chiến lược khởi đầu chiến tranh.Nghệ thuật mở đầu chiến tranh độc lập, sáng tạo của Đảng ta để lại nhiều bài học kinh nghiệm, có thể chắt lọc vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.Trước hết, là cần đánh giá đúng tình hình thực tiễn. Khi cách mạng miền Nam lâm vào tình thế khó khăn, hiểm nghèo, Đảng ta đã không rập khuôn máy móc mà xuất phát từ thực tiễn để điều chỉnh phương pháp đấu tranh. Hiện nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc nhận diện đúng, chính xác tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, nhất là trong thời đại chuyển đổi số, cách mạng khoa học - công nghệ 4.0, sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, là điều kiện tiên quyết để đề ra chủ trương, chính sách phù hợp.Hai là, bài học về phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân vẫn mang tính nền tảng. Nghị quyết Trung ương 15 xác định “lấy lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu” đã chứng minh vai trò quyết định của nhân dân trong mọi thắng lợi. Ngày nay, điều đó được thể hiện qua việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sức mạnh xã hội trong phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền, cũng như trong mọi nhiệm vụ khác, như Nghị quyết Đại hội Đảng đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã khẳng định: “Quán triệt quan điểm dân là gốc, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.Ba là, bài học về phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tính sáng tạo, linh hoạt trong chỉ đạo chiến lược. Chủ trương “khởi nghĩa từng phần” cho thấy sự mềm dẻo, không cực đoan, biết lựa chọn bước đi phù hợp với bối cảnh thời đại, phù hợp với tương quan lực lượng địch, ta trong tình hình cụ thể. Trong bối cảnh hiện nay, điều này gợi mở việc kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với quốc phòng - an ninh, giữa hội nhập quốc tế sâu rộng với giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước.Bốn là, bài học về kiềm chế xung đột, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Phát động khởi nghĩa từng phần trong những năm 1959-1960, Đảng ta đã tính đến việc tránh để chiến tranh lan rộng, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới. Trong chính sách đối ngoại hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục chủ trương phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, đó là bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời chủ động, tích cực đóng góp vào hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bên vững trên tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.[1] Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.310.[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20 (1959), tr.82.vov.vn🔗Xem link nguồn