Đường tới toàn thắng 30/4/1975: Khởi nghĩa từng phần - bước mở đầu sáng tạo

Khởi nghĩa từng phần là bước mở đầu sáng tạo, thể hiện sự chuyển hướng kịp thời của Đảng trước tình thế hiểm nghèo của cách mạng miền Nam. Chủ trương này đã khơi dậy sức mạnh quần chúng, tạo đà cho phong trào Đồng Khởi, đưa cách mạng từ thế phòng ngự sang tiến công.

Tháng 7/1954, ngay sau khi thực dân Pháp ký kết Hiệp định Geneve về Đông Dương, đế quốc Mỹ lập tức nhảy vào “lấp chỗ trống”, tiến hành xâm lược miền Nam Việt Nam. Mỹ dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, ra sức đàn áp phong trào cách mạng.

Đến cuối năm 1958, trước sự đàn áp, khủng bố của Mỹ - Diệm, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề, lâm vào tình thế hiểm nghèo: Cả miền Nam tổn thất 9/10 số cán bộ, đảng viên. Ở Nam Bộ, khoảng 7 vạn cán bộ đảng viên ta bị địch giết; gần 90 vạn cán bộ, nhân dân bị địch bắt, bị tù đày; gần 20 vạn bị tra tấn thành tàn tật; chỉ còn khoảng 5.000 đảng viên so với 60.000 đảng viên trước đó. Bến Tre còn 162 đảng viên, Tiền Giang còn 92, Gia Định, Biên Hòa mỗi nơi chỉ còn 1 chi bộ đảng.

Ở Khu 5 (lúc đó gồm cả Trị - Thiên và cực Nam Trung Bộ) khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi ủy viên xã bị bắt, bị giết; có tỉnh chỉ còn 2-3 chi bộ, 12 huyện đồng bằng không còn cơ sở đảng. Trị - Thiên chỉ còn 160/23.400 đảng viên trước đó[1].

Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975. (Ảnh: TTXVN)

Phương pháp đấu tranh hòa bình của cách mạng miền Nam (từ tháng 7/1954 đến thời điểm này) rõ ràng không hiệu quả. Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng ta là phải tìm ra con đường đấu tranh mới, phù hợp để cứu nguy cho cách mạng miền Nam đang lúc "dầu sôi lửa bỏng".

Trước yêu cầu thực tiễn cách mạng, đầu năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng được tổ chức tại Hà Nội. Đa số ý kiến đều cho rằng, muốn thống nhất đất nước, thì phải bằng con đường bạo lực cách mạng! Nhưng bạo lực cách mạng như thế nào thì bàn luận rất kỹ lưỡng. Nếu công khai đưa lực lượng vũ trang từ miền Bắc tiến công thì Mỹ sẽ trực tiếp đưa quân tham chiến (như trong chiến tranh Triều Tiên 1950-1953), tình hình sẽ rất khó khăn, chiến tranh có thể lan rộng không thể kiểm soát. Nếu phát động chiến tranh cách mạng tại miền Nam thời điểm này cũng sẽ không thể thành công, vì cả thế và lực của ta còn rất yếu, lực lượng vũ trang tại chỗ của ta hầu như không đáng kể, chưa thể đương đầu với các sư đoàn ngụy quân cùng cỗ máy chiến tranh lớn mạnh của địch.

Cuối cùng, Hội nghị quyết định hai vấn đề chính: Một là Cách mạng miền Nam do nhân dân miền Nam trực tiếp thực hiện, có nhiệm vụ nhằm đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm - chế độ tay sai của Mỹ; Hai là phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng: cụ thể là "lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân"[2]. Đó là 2 vấn đề mấu chốt/quan trọng nhất được Hội nghị thông qua, thực chất là phát động cuộc khởi nghĩa từng phần ở miền Nam (trọng điểm ở nông thôn và miền núi).

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 ra đời phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của cán bộ, đồng bào miền Nam, đã thổi bùng lên phong trào Đồng khởi toàn miền Nam (1959-1960). Nhân dân ta đã đứng lên đấu tranh giành quyền làm chủ với mức độ khác nhau: Ở Nam Bộ, ta làm chủ 1.100/1.296 xã với 4,5 triệu dân. Ở Khu 5, ta làm chủ 4.440/4.700 thôn với 2 triệu dân. Từng mảng lớn bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền cơ sở các thôn xã bị tan vỡ; đẩy chúng lâm vào thế bị động lúng túng, khủng hoảng trầm trọng.

Từ phong trào Đồng Khởi, Đảng bộ miền Nam được khôi phục, đội quân đấu tranh chính trị, đặc biệt là “đội quân tóc dài” của phụ nữ Nam Bộ ra đời. Lực lượng vũ trang ba thứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp từng bước được hình thành. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam thành lập (20/12/1960), các căn cứ địa cách mạng trước đây được khôi phục, mở rộng. Cách mạng miền Nam từ thoái trào, giữ gìn lực lượng, chuyển hẳn sang thế tiến công.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (1959) cho thấy sự chỉ đạo chiến lược rất đặc sắc, sáng tạo của Đảng ta, thể hiện rõ nét ở những khía cạnh sau:

- Thứ nhất, nghị quyết ra đời đúng lúc, đúng thời điểm. Đó là khi Mỹ - Diệm lộ rõ dã tâm phá hoại Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, muốn chia cắt lâu dài nước ta. Chúng tiến hành khủng bố, đàn áp dã man khiến đồng bào ta ở miền Nam không thể chịu đựng sống như cũ được nữa, mâu thuẫn giữa đông đảo nhân dân miền Nam với tập đoàn Mỹ - Diệm cực kỳ sâu sắc.

- Thứ hai, nghị quyết chủ trương phát động khởi nghĩa từng phần, lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu, bằng lực lượng quần chúng tại chỗ là chủ yếu. Điều này rất phù hợp với năng lực cách mạng của nhân dân miền Nam lúc đó. Đây cũng là điểm khác biệt so với việc mở đầu toàn quốc kháng chiến trong thời kỳ chống thực dân Pháp (ta phát động chiến tranh toàn quốc, mở đầu lấy đấu tranh quân sự ở mặt trận đô thị làm chính).

- Thứ ba, nghị quyết khẳng định cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam do nhân dân miền Nam trực tiếp thực hiện. Đây là một bất ngờ lớn đối với Mỹ - Diệm vì trước đó, hướng đề phòng chính của chúng là một cuộc tiến công quân sự từ miền Bắc vào qua vĩ tuyến 17. Chúng còn cho rằng lực lượng cách mạng ở miền Nam đã bị tiêu diệt nên không lường được một cuộc nổi dậy rộng lớn của quần chúng tại chỗ. Do đó, khi nhân dân ta ở miền Nam nổi dậy đồng loạt, Mỹ - Diệm đối phó bị động, lúng túng.

- Thứ tư, trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào miền Nam, Mỹ - Diệm phải từ bỏ ý định “Bắc tiến” (mở rộng chiến tranh ra miền Bắc), mà buộc phải quay về đối phó với phong trào cách mạng miền Nam. Mặt khác, Mỹ cũng không có cớ để đưa quân viễn chinh vào miền Nam trực tiếp tham chiến. Như vậy, ta đã kiềm chế, tránh không để chiến tranh lan rộng, trở thành chiến tranh khu vực, chiến tranh giữa hai phe. Do đó, ta đã tranh thủ được sự đồng tình và giúp đỡ to lớn của cả Liên Xô, Trung Quốc và nhân dân nhiều nước trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.

Những khía cạnh nêu trên không chỉ là khoa học, mà còn là nghệ thuật - nghệ thuật chỉ đạo chiến lược khởi đầu chiến tranh.

Nghệ thuật mở đầu chiến tranh độc lập, sáng tạo của Đảng ta để lại nhiều bài học kinh nghiệm, có thể chắt lọc vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trước hết, là cần đánh giá đúng tình hình thực tiễn. Khi cách mạng miền Nam lâm vào tình thế khó khăn, hiểm nghèo, Đảng ta đã không rập khuôn máy móc mà xuất phát từ thực tiễn để điều chỉnh phương pháp đấu tranh. Hiện nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc nhận diện đúng, chính xác tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, nhất là trong thời đại chuyển đổi số, cách mạng khoa học - công nghệ 4.0, sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, là điều kiện tiên quyết để đề ra chủ trương, chính sách phù hợp.

Hai là, bài học về phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân vẫn mang tính nền tảng. Nghị quyết Trung ương 15 xác định “lấy lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu” đã chứng minh vai trò quyết định của nhân dân trong mọi thắng lợi. Ngày nay, điều đó được thể hiện qua việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sức mạnh xã hội trong phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền, cũng như trong mọi nhiệm vụ khác, như Nghị quyết Đại hội Đảng đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã khẳng định: “Quán triệt quan điểm dân là gốc, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Ba là, bài học về phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tính sáng tạo, linh hoạt trong chỉ đạo chiến lược. Chủ trương “khởi nghĩa từng phần” cho thấy sự mềm dẻo, không cực đoan, biết lựa chọn bước đi phù hợp với bối cảnh thời đại, phù hợp với tương quan lực lượng địch, ta trong tình hình cụ thể. Trong bối cảnh hiện nay, điều này gợi mở việc kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với quốc phòng - an ninh, giữa hội nhập quốc tế sâu rộng với giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước.

Bốn là, bài học về kiềm chế xung đột, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Phát động khởi nghĩa từng phần trong những năm 1959-1960, Đảng ta đã tính đến việc tránh để chiến tranh lan rộng, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới. Trong chính sách đối ngoại hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục chủ trương phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, đó là bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời chủ động, tích cực đóng góp vào hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bên vững trên tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

[1] Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.310.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20 (1959), tr.82.

Xem nhiều nhất

Suy ngẫm về tư tưởng "lấy dân làm gốc" nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Bác Hồ

Thông tin tuyên truyền 1 ngày trước

Từ những ngày chuẩn bị giành chính quyền, Bác Hồ đã khẳng định chân lý "Nước lấy dân làm gốc". Với Bác, "gốc" chính là tài dân, lực lượng dân, của dân, lòng dân, quyền dân. Người căn dặn: "Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" (1). Tư tưởng ấy được Bác cụ thể hóa bằng những luận điểm giản dị mà thấm thía: "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân...Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân (2).Đặc biệt, Bác luôn coi trọng chính quyền cơ sở - cấp gần dân nhất. Bác yêu cầu tổ chức chính quyền phải gọn nhẹ, rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo và mỗi cán bộ thực sự là "công bộc của dân". Người chỉ rõ tinh, gọn bộ máy là nhằm xây dựng cơ quan nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả, mang lại lợi ích cho đất nước; tránh rườm rà, cồng kềnh, thực hiện chủ trương nhanh, gọn và tiện lợi; góp phần giảm bớt chi phí ngân sách và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân.Bác yêu cầu: "…tổ chức còn kềnh càng, thừa người, phải sắp xếp cho gọn gàng, hợp lý…" (3); "Về biên chế - từ các bộ, các ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và càng ngày càng phình ra. Vì vậy mà sinh ra quan liêu, lãng phí" (4). Người phê phán tình trạng bộ máy cồng kềnh, quan liêu, xa rời thực tiễn, coi đó là một trong những nguyên nhân làm giảm sút hiệu quả quản lý và ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân.Những lời dạy của Bác mãi mãi là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân làm trung tâm. Việc chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hiện thực hóa tư tưởng "gần dân, sát dân" của Bác, đồng thời thể hiện rõ tư duy đổi mới trong quản trị xã hội của Đảng, Nhà nước.Sau gần một năm vận hành, mô hình chính quyền địa phương hai cấp bước đầu phát huy hiệu quả, mang lại những thay đổi rõ nét trong phương thức phục vụ nhân dân. Chính quyền cấp xã không còn là "mắt xích thụ động" trong guồng máy hành chính mà vươn mình thành thực thể tự chủ: tự quyết, tự làm, tự chịu trách nhiệm, chủ động kiến tạo và phục vụ nhân dân ngay từ gốc.Người dân giờ đây không còn phải "chạy sở, đợi huyện". Mô hình "Một cửa, một lần, không trung gian" đã xóa nhòa những quãng đường xa, cắt bớt những ngày chờ đợi. Nền tảng số hóa như cánh tay nối dài, hồ sơ trực tuyến, thanh toán không tiền mặt, làm thủ tục mọi lúc mọi nơi.Có nơi, cán bộ đến tận nhà trả kết quả (mô hình "hai phục vụ" tại xã đảo Minh Châu - Hà Nội) (5); mô hình "Ngày thứ Bảy hành chính lưu động" tại Quảng Ngãi, cán bộ vào tận bản làng vùng sâu để tiếp nhận thủ tục hành chính, hướng dẫn bà con (6). Hình ảnh người cán bộ tận tụy đến từng nhà, từng bản chính là sự cụ thể hóa sinh động nhất lời Bác dạy "Việc lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc hại đến dân, ta phải hết sức tránh".Tại phường An Hải (Hải Phòng), người dân có thể đến bất cứ đơn vị hành chính nào trên địa bàn để giải quyết thủ tục (7); tại phường Hạc Thành (Thanh Hóa), phần lớn hồ sơ được giải quyết trước hạn. Ở Nghệ An (xã Sơn Lâm), ngày trước chuyển nhượng đất cho con phải chạy xe 20km lên huyện, nay chỉ còn chưa đầy 20 phút tại trụ sở xã (8).Tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp về dịch vụ công, thủ tục hành chính tăng lên rõ rệt. Tại Hà Nội tỷ lệ này đạt gần 99% (9), Khánh Hòa 88,24% (10), Hải Phòng 90% hồ sơ trước hạn. Đặc biệt, tại Đặc khu Phú Quý (Lâm Đồng) có tới 99,94% hồ sơ giải quyết đúng hạn. Tại Đà Nẵng, kết quả khảo sát ghi nhận hoạt động Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã hiệu quả, đáp ứng đúng mục tiêu, yêu cầu (11). Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh/thành khác đang tổ chức thăm dò dư luận đối với hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương hai cấp (12).Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi còn gặp những khó khăn, vướng mắc nhất định. Áp lực công việc của cán bộ, công chức cấp xã tăng lên đáng kể. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở nhiều nơi vừa thừa vừa thiếu. Nhiều cán bộ không có chuyên môn sâu ở các lĩnh vực được phân công, đặc biệt thiếu cán bộ có chuyên môn về công nghệ thông tin, chuyển đổi số.Hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ. Một số lĩnh vực chưa có quy trình, thủ tục được ban hành kịp thời. Một bộ phận cán bộ còn lúng túng, làm việc cầm chừng. Chế độ phụ cấp chưa theo kịp, ảnh hưởng nhất định đến tâm tư và sự gắn bó lâu dài của đội ngũ cán bộ cơ sở.Để lời Bác dạy thấm sâu hơn nữa, thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền một cách rõ ràng - rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cấp xã, coi đây là khâu đột phá. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, giúp giảm thời gian và chi phí, đồng thời tăng tính minh bạch, chống tiêu cực.Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở, bởi như Bác đã dạy: "Dân chúng trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh, có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn... Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân" (13).Cùng với đó, cần tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân theo chuẩn mực "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" - đó chính là nền tảng vững chắc để cán bộ cơ sở vượt qua áp lực.Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, chúng ta không chỉ dâng lên Người những lời ca, những bông hoa tươi thắm, mà còn dâng lên những thành quả cách hành chính - một nền hành chính thực sự của dân, do dân và vì dân. Và quan trọng hơn cả, đó là một thông điệp xuyên suốt: Cải cách bộ máy không phải đích đến mà chỉ là phương tiện để phục vụ nhân dân, để dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ghi chú:1 Nguyễn Thanh Tú (2026), Tư tưởng lấy dân làm gốc của Bác Hồ soi sáng hôm nay, https://www.hcmcpv.org.vn, ngày 10/2/2026.2 Bùi Đình Phong (2020), Tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” soi sáng công tác dân vận hiện nay, https://hochiminh.vn, ngày 13/10/2020.3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.432.4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 13, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.314.5 Báo Hà Nội online (2026), Hà Nội triển khai chính quyền hai cấp gần dân, minh bạch, hiệu quả, https://hanoionline.vn, tháng 11/2025.6 Chu Thanh Vân (2026), Tiếp tục gỡ nút thắt để chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động thông suốt, https://www.vietnamplus.vn, ngày 3/5/2026.7,8 Báo Nhân Dân điện tử (2026), Chính quyền địa phương hai cấp: Bước chuyểnđể phục vụ người dân tốt hơn, https://special.nhandan.vn, Truy cập ngày 7/5/2026.9 Huy Kiên, Lê Hải (2026), Nâng cao chất lượng cải cách hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp, https://hanoi.gov.vn, ngày 7/4/2026.10 Nguyễn Vũ (2026), Cải thiện SIPAS, hướng tới “rất hài lòng”, https://baokhanhhoa.vn, ngày 4/5/2026.11 Hàn Giang (2026), Một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp: Nhìn từ hiệu quả cung cấp dịch vụ hành chính công, https://baodanang.vn, ngày 7/5/2026.12 Tiến Long (2026), TP.HCM lấy ý kiến người dân về hiệu quả vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, https://tuoitre.vn, ngày 6/5/2026.13 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.668.vov.vn🔗Xem link nguồn