Có phải nộp thuế phí khi phân chia đất mua chung?

(Chinhphu.vn) - Em của ông Trần Đình Ân có góp tiền mua chung quyền sử dụng đất với bạn, mỗi người giữ 1 Giấy chứng nhận nhưng có cùng nội dung. Nay, hai người có nhu cầu phân chia để sử dụng và đã được phòng công chứng chứng thực thỏa thuận phân chia tài sản riêng là quyền sử dụng đất.

Theo ông Ân hiểu đây là thỏa thuận phân chia tài sản, chứ không phải hợp đồng chuyển nhượng, do đó không làm phát sinh tài chính (không phát sinh thu nhập) và cũng không thay đổi chủ sở hữu. Vì vậy trường hợp em của ông không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Phí và lệ phí mà được xử lý theo quy đinh tại khoản 4 Điều 7 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và Hệ thống thông tin đất đai.

Tuy nhiên, cơ quan thuế vẫn phát hành Giấy báo nộp tiền thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ.

Ông Ân hỏi, em của ông và người bạn phải nộp 2 loại thuế, phí trên có đúng không?

Về vấn đề này, Đội Thuế liên huyện thành phố Sóc Trăng có ý kiến như sau:

Căn cứ Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội quy định về thuế thu nhập cá nhân:

"Điều 4. Thu nhập được miễn thuế

1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.

2. Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.

… 4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau…".

Tại khoản 1 Điều 1 Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định:

"Điều 1.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân:

1. Khoản 2 và khoản 5 Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

… "5. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:

a) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;

b) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở;

c) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, quyền thuê mặt nước;

d) Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản dưới mọi hình thức".

Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2022/NĐ-CP ngày 15/01/2022 của Chính phủ quy định về lệ phí trước bạ:

"Điều 3. Đối tượng chịu lệ phí trước bạ

1. Nhà, đất".

Căn cứ Điều 4 Nghị định số 10/2022/NĐ-CP:

"Điều 4. Người nộp lệ phí trước bạ

Tổ chức, cá nhân có tài sản thuộc đối tượng chịu lệ phí trước bạ quy định tại Điều 3 Nghị định này phải nộp lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ các trường hợp thuộc đối tượng miễn lệ phí trước bạ theo quy định tại Điều 10 Nghị định này".

Căn cứ điểm c khoản 16 Điều 10 Nghị định số 10/2022/NĐ-CP:

"Điều 10. Miễn lệ phí trước bạ

… 16. Tài sản của tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng khi đăng ký lại quyền sở hữu, sử dụng được miễn nộp lệ phí trước bạ trong những trường hợp sau đây:

… c) Tài sản đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng chung của hộ gia đình hoặc của các thành viên gia đình khi phân chia tài sản đó theo quy định của pháp luật cho các thành viên gia đình đăng ký lại; tài sản hợp nhất của vợ chồng sau khi kết hôn; tài sản phân chia cho vợ, chồng khi ly hôn theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án".

Căn cứ vào các quy định đã trích dẫn nêu trên, trường hợp em của ông Ân có thỏa thuận phân chia tài sản riêng với người bạn đã góp tiền mua chung quyền sử dụng đất (không có mối quan hệ nhân thân), không thuộc trường hợp được miễn lệ phí trước bạ và thuế thu nhập cá nhân theo quy định.

(Theo mof.gov.vn)

Xem nhiều nhất

Đường tới toàn thắng 30/4/1975: Khởi nghĩa từng phần - bước mở đầu sáng tạo

Thông tin tuyên truyền 1 ngày trước

Tháng 7/1954, ngay sau khi thực dân Pháp ký kết Hiệp định Geneve về Đông Dương, đế quốc Mỹ lập tức nhảy vào “lấp chỗ trống”, tiến hành xâm lược miền Nam Việt Nam. Mỹ dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, ra sức đàn áp phong trào cách mạng.Đến cuối năm 1958, trước sự đàn áp, khủng bố của Mỹ - Diệm, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề, lâm vào tình thế hiểm nghèo: Cả miền Nam tổn thất 9/10 số cán bộ, đảng viên. Ở Nam Bộ, khoảng 7 vạn cán bộ đảng viên ta bị địch giết; gần 90 vạn cán bộ, nhân dân bị địch bắt, bị tù đày; gần 20 vạn bị tra tấn thành tàn tật; chỉ còn khoảng 5.000 đảng viên so với 60.000 đảng viên trước đó. Bến Tre còn 162 đảng viên, Tiền Giang còn 92, Gia Định, Biên Hòa mỗi nơi chỉ còn 1 chi bộ đảng.Ở Khu 5 (lúc đó gồm cả Trị - Thiên và cực Nam Trung Bộ) khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi ủy viên xã bị bắt, bị giết; có tỉnh chỉ còn 2-3 chi bộ, 12 huyện đồng bằng không còn cơ sở đảng. Trị - Thiên chỉ còn 160/23.400 đảng viên trước đó[1].Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975. (Ảnh: TTXVN)Phương pháp đấu tranh hòa bình của cách mạng miền Nam (từ tháng 7/1954 đến thời điểm này) rõ ràng không hiệu quả. Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng ta là phải tìm ra con đường đấu tranh mới, phù hợp để cứu nguy cho cách mạng miền Nam đang lúc "dầu sôi lửa bỏng".Trước yêu cầu thực tiễn cách mạng, đầu năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng được tổ chức tại Hà Nội. Đa số ý kiến đều cho rằng, muốn thống nhất đất nước, thì phải bằng con đường bạo lực cách mạng! Nhưng bạo lực cách mạng như thế nào thì bàn luận rất kỹ lưỡng. Nếu công khai đưa lực lượng vũ trang từ miền Bắc tiến công thì Mỹ sẽ trực tiếp đưa quân tham chiến (như trong chiến tranh Triều Tiên 1950-1953), tình hình sẽ rất khó khăn, chiến tranh có thể lan rộng không thể kiểm soát. Nếu phát động chiến tranh cách mạng tại miền Nam thời điểm này cũng sẽ không thể thành công, vì cả thế và lực của ta còn rất yếu, lực lượng vũ trang tại chỗ của ta hầu như không đáng kể, chưa thể đương đầu với các sư đoàn ngụy quân cùng cỗ máy chiến tranh lớn mạnh của địch.Cuối cùng, Hội nghị quyết định hai vấn đề chính: Một là Cách mạng miền Nam do nhân dân miền Nam trực tiếp thực hiện, có nhiệm vụ nhằm đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm - chế độ tay sai của Mỹ; Hai là phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng: cụ thể là "lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân"[2]. Đó là 2 vấn đề mấu chốt/quan trọng nhất được Hội nghị thông qua, thực chất là phát động cuộc khởi nghĩa từng phần ở miền Nam (trọng điểm ở nông thôn và miền núi).Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 ra đời phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của cán bộ, đồng bào miền Nam, đã thổi bùng lên phong trào Đồng khởi toàn miền Nam (1959-1960). Nhân dân ta đã đứng lên đấu tranh giành quyền làm chủ với mức độ khác nhau: Ở Nam Bộ, ta làm chủ 1.100/1.296 xã với 4,5 triệu dân. Ở Khu 5, ta làm chủ 4.440/4.700 thôn với 2 triệu dân. Từng mảng lớn bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền cơ sở các thôn xã bị tan vỡ; đẩy chúng lâm vào thế bị động lúng túng, khủng hoảng trầm trọng.Từ phong trào Đồng Khởi, Đảng bộ miền Nam được khôi phục, đội quân đấu tranh chính trị, đặc biệt là “đội quân tóc dài” của phụ nữ Nam Bộ ra đời. Lực lượng vũ trang ba thứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp từng bước được hình thành. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam thành lập (20/12/1960), các căn cứ địa cách mạng trước đây được khôi phục, mở rộng. Cách mạng miền Nam từ thoái trào, giữ gìn lực lượng, chuyển hẳn sang thế tiến công.Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (1959) cho thấy sự chỉ đạo chiến lược rất đặc sắc, sáng tạo của Đảng ta, thể hiện rõ nét ở những khía cạnh sau:- Thứ nhất, nghị quyết ra đời đúng lúc, đúng thời điểm. Đó là khi Mỹ - Diệm lộ rõ dã tâm phá hoại Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, muốn chia cắt lâu dài nước ta. Chúng tiến hành khủng bố, đàn áp dã man khiến đồng bào ta ở miền Nam không thể chịu đựng sống như cũ được nữa, mâu thuẫn giữa đông đảo nhân dân miền Nam với tập đoàn Mỹ - Diệm cực kỳ sâu sắc.- Thứ hai, nghị quyết chủ trương phát động khởi nghĩa từng phần, lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu, bằng lực lượng quần chúng tại chỗ là chủ yếu. Điều này rất phù hợp với năng lực cách mạng của nhân dân miền Nam lúc đó. Đây cũng là điểm khác biệt so với việc mở đầu toàn quốc kháng chiến trong thời kỳ chống thực dân Pháp (ta phát động chiến tranh toàn quốc, mở đầu lấy đấu tranh quân sự ở mặt trận đô thị làm chính).- Thứ ba, nghị quyết khẳng định cuộc đấu tranh cách mạng miền Nam do nhân dân miền Nam trực tiếp thực hiện. Đây là một bất ngờ lớn đối với Mỹ - Diệm vì trước đó, hướng đề phòng chính của chúng là một cuộc tiến công quân sự từ miền Bắc vào qua vĩ tuyến 17. Chúng còn cho rằng lực lượng cách mạng ở miền Nam đã bị tiêu diệt nên không lường được một cuộc nổi dậy rộng lớn của quần chúng tại chỗ. Do đó, khi nhân dân ta ở miền Nam nổi dậy đồng loạt, Mỹ - Diệm đối phó bị động, lúng túng.- Thứ tư, trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào miền Nam, Mỹ - Diệm phải từ bỏ ý định “Bắc tiến” (mở rộng chiến tranh ra miền Bắc), mà buộc phải quay về đối phó với phong trào cách mạng miền Nam. Mặt khác, Mỹ cũng không có cớ để đưa quân viễn chinh vào miền Nam trực tiếp tham chiến. Như vậy, ta đã kiềm chế, tránh không để chiến tranh lan rộng, trở thành chiến tranh khu vực, chiến tranh giữa hai phe. Do đó, ta đã tranh thủ được sự đồng tình và giúp đỡ to lớn của cả Liên Xô, Trung Quốc và nhân dân nhiều nước trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.Những khía cạnh nêu trên không chỉ là khoa học, mà còn là nghệ thuật - nghệ thuật chỉ đạo chiến lược khởi đầu chiến tranh.Nghệ thuật mở đầu chiến tranh độc lập, sáng tạo của Đảng ta để lại nhiều bài học kinh nghiệm, có thể chắt lọc vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.Trước hết, là cần đánh giá đúng tình hình thực tiễn. Khi cách mạng miền Nam lâm vào tình thế khó khăn, hiểm nghèo, Đảng ta đã không rập khuôn máy móc mà xuất phát từ thực tiễn để điều chỉnh phương pháp đấu tranh. Hiện nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc nhận diện đúng, chính xác tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, nhất là trong thời đại chuyển đổi số, cách mạng khoa học - công nghệ 4.0, sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, là điều kiện tiên quyết để đề ra chủ trương, chính sách phù hợp.Hai là, bài học về phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân vẫn mang tính nền tảng. Nghị quyết Trung ương 15 xác định “lấy lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu” đã chứng minh vai trò quyết định của nhân dân trong mọi thắng lợi. Ngày nay, điều đó được thể hiện qua việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sức mạnh xã hội trong phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền, cũng như trong mọi nhiệm vụ khác, như Nghị quyết Đại hội Đảng đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã khẳng định: “Quán triệt quan điểm dân là gốc, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.Ba là, bài học về phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tính sáng tạo, linh hoạt trong chỉ đạo chiến lược. Chủ trương “khởi nghĩa từng phần” cho thấy sự mềm dẻo, không cực đoan, biết lựa chọn bước đi phù hợp với bối cảnh thời đại, phù hợp với tương quan lực lượng địch, ta trong tình hình cụ thể. Trong bối cảnh hiện nay, điều này gợi mở việc kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với quốc phòng - an ninh, giữa hội nhập quốc tế sâu rộng với giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước.Bốn là, bài học về kiềm chế xung đột, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Phát động khởi nghĩa từng phần trong những năm 1959-1960, Đảng ta đã tính đến việc tránh để chiến tranh lan rộng, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới. Trong chính sách đối ngoại hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục chủ trương phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, đó là bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời chủ động, tích cực đóng góp vào hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bên vững trên tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.[1] Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.310.[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20 (1959), tr.82.vov.vn🔗Xem link nguồn