Chuyên gia hiến kế giải quyết tình trạng "thừa trụ sở" sau sáp nhập

Chuyên gia kinh tế cho rằng, vấn đề xử lý trụ sở dôi dư không thể giải quyết bằng tư duy hành chính thuần túy, mà phải tiếp cận như một bài toán về quản trị tài sản công - nơi mà hiệu quả sử dụng và giá trị cộng đồng phải được đặt lên hàng đầu.

Trụ sở dôi dư chờ xử lý

Sau sáp nhập với tỉnh Hưng Yên mới, tỉnh Thái Bình (cũ) có hàng chục trụ sở làm việc của các các sở, ngành đang “để không” kể từ sau 31/8 Hưng Yên đã sắp xếp trụ sở làm việc về một đầu mối.

Dọc tuyến phố Lê Lợi, thành phố Thái Bình (cũ), hàng chục trụ sở làm việc đang “đóng cửa” để chờ xử lý. Một tài xế xe ôm gần khu vực này cho biết, tuyến phố này trước kia vốn sầm uất bởi các trụ sở làm việc của các cơ quan nhà nước, nay trở nên vắng vẻ vì hơn 2 tháng nay các trụ sở ở đây đóng cửa.

“Mỗi lần chở khách đi qua tuyến phố này tôi thấy vắng vẻ, các trụ sở để không và thấy một vài trụ sở cỏ đã mọc ở bên ngoài”, tài xế xe ôm chia sẻ.

Trụ sở liên cơ tỉnh Thái Bình (cũ) đang chờ xử lý. Ảnh: PV
 

Theo số liệu thống kê của Sở Tài chính Hưng Yên, đến nay tổng số cơ sở nhà, đất của các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Bình (cũ) là 206 cơ sở. Trong đó, trụ sở làm việc là 51 cơ sở; cơ sở hoạt động sự nghiệp là 155 cơ sở.

Ông Nguyễn Đức Tài, Giám đốc Sở Tài chính Hưng Yên cho biết, Sở đang tiến hành rà soát và sẽ tổng hợp, xác định chính xác số lượng tài sản và xây dựng phương án sắp xếp, xử lý để báo cáo UBND tỉnh trước ngày 25/9/2025.

Nhiều trụ sở ở tỉnh Thái Bình (cũ) cửa đóng then cài, cỏ đã bắt đầu mọc. Ảnh: PV
 

Tại báo cáo rà soát, đánh giá sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính và vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, Bộ Tài chính cho biết, đến nay vẫn còn tổng số lượng cơ sở nhà, đất dôi dư cần tiếp tục xử lý của các địa phương là trên 9.000 cơ sở.

Theo Bộ Tài chính, mặc dù các địa phương đã tích cực triển khai các quy định của pháp luật, các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các hướng dẫn của Bộ Tài chính, Bộ quản lý ngành, lĩnh vực để thực hiện việc sắp xếp, bố trí, xử lý trụ sở, tài sản công khi sắp xếp đơn vị hành chính. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Cụ thể, việc bố trí, sắp xếp, xử lý trụ sở khi sắp xếp đơn vị hành chính là vấn đề khó do đây là những tài sản có tính chất cố định.

Bộ Tài chính chỉ ra những khó khăn như những nơi là trung tâm hành chính của tỉnh, xã (mới) thì phát sinh tình trạng thiếu trụ sở do cả cơ quan trung ương và cơ quan địa phương đều có nhu cầu sử dụng trụ sở, trong khi đó ở những nơi không còn là trung tâm hành chính của tỉnh, xã (mới) thì các cơ quan đều phát sinh tình trạng dôi dư, không còn nhu cầu sử dụng.

Cần xử lý quyết liệt không để lãng phí

Nhiều chuyên gia phân tích, sau khi sáp nhập tỉnh, hàng chục nghìn trụ sở cơ quan hành chính có thể dôi dư. Do đó, việc xử lý hiệu quả các trụ sở này không chỉ tránh lãng phí mà còn có thể thêm nguồn lực lớn để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Tuy nhiên, để làm được điều đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Trung ương và địa phương, cùng với các giải pháp đồng bộ, minh bạch và quyết liệt.

Từ góc độ tài chính công, PGS.TS. Ngô Trí Long, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu giá, Bộ Tài chính cho rằng, việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện là chủ trương đúng đắn, góp phần tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, một hệ lụy đi kèm là tình trạng "thừa trụ sở", gây lãng phí nguồn lực nếu không được xử lý kịp thời, bài bản.

Theo PGS.TS Ngô Trí Long, để giải quyết hiệu quả vấn đề này, cần rà soát và phân loại rõ mục đích sử dụng của các trụ sở dôi dư theo từng nhóm, có thể tái sử dụng phục vụ công vụ, có thể chuyển đổi công năng phục vụ cộng đồng hoặc nên bán đấu giá để thu ngân sách. Cần giám sát chặt chẽ và công khai hóa tiến độ xử lý để tránh xảy ra tình trạng trục lợi, sử dụng sai mục đích hoặc bị chiếm dụng trái phép.

“Nói cách khác, vấn đề xử lý trụ sở dôi dư không thể giải quyết bằng tư duy hành chính thuần túy, mà phải tiếp cận như một bài toán về quản trị tài sản công - nơi mà hiệu quả sử dụng và giá trị cộng đồng phải được đặt lên hàng đầu. Đây cũng là một phép thử cho năng lực điều hành ở cấp cơ sở sau sáp nhập”, PGS.TS Ngô Trí Long nhấn mạnh.

Một trụ sở ở tỉnh Thái Bình (cũ) không có người làm việc, người dân tranh thủ đỗ xe. Ảnh: PV
 

Bộ Tài chính cho biết, tiếp tục rà soát việc bố trí, sắp xếp, xử lý tài sản công theo đúng quy định và chỉ đạo của Chính phủ, đối chiếu với kết quả Tổng kiểm kê tài sản công theo Quyết định 213/QĐ-TTg ngày 1/3/2024 để tránh thất thoát.

Đối với những cơ sở đã được bố trí sử dụng nhưng phát sinh bất cập trong quá trình vận hành, các địa phương sẽ tiếp tục điều chỉnh để bảo đảm điều kiện làm việc cho cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời đáp ứng tốt nhất nhu cầu cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp.

Bộ Tài chính nhấn mạnh, việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý trách nhiệm đối với những tập thể, cá nhân chậm trễ hoặc thực hiện không đúng quy định. Đồng thời, Bộ sẽ phối hợp với các địa phương để tổ chức đào tạo, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ liên quan, kịp thời giải quyết các khó khăn vướng mắc trong phạm vi thẩm quyền, hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.

Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng, xử lý tài sản công dôi dư là nhiệm vụ khó, phức tạp nhưng bắt buộc. Nếu làm không nghiêm túc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều hành, quản lý và phát triển kinh tế - xã hội.

"Trụ sở dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính sẽ ưu tiên sử dụng cho lĩnh vực giáo dục, y tế, công trình xã hội. Số còn lại dứt khoát các địa phương phải đưa vào quy hoạch, kế hoạch sắp xếp lại để tránh lãng phí", Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng nêu rõ.

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Nghị quyết 57 - Nghĩ xa, làm lớn cho một Việt Nam hùng cường

Thông tin tuyên truyền 1 ngày trước

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác định một cuộc cải cách toàn diện nhằm hình thành mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, đồng thời đặt nền tảng quản trị quốc gia hiện đại.Để triển khai Nghị quyết 57 một cách thực chất, lần đầu tiên, Việt Nam thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trực thuộc Bộ Chính trị.Trong một năm, Thường trực Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc đã tổ chức hơn 30 cuộc họp, ban hành 30 thông báo kết luận và hàng trăm báo cáo phục vụ điều hành. Mỗi cuộc làm việc đều đi sâu phân tích, “mổ xẻ”, tháo gỡ từng điểm nghẽn, xác định trách nhiệm đến từng cá nhân, từng đơn vị, chỉ đạo quyết liệt từng mảng việc.“Các điểm nghẽn được xác định thông qua việc thu thập các thông tin từ dưới cơ sở cũng như người làm chính sách. Từ đó lập ra cơ chế tổ công tác để xử lý một cách thấu đáo các điểm nghẽn một cách liên ngành. Sau đó sẽ cụ thể hóa bằng các thể chế”, PGS.TS Tạ Hải Tùng, Hiệu trưởng Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Bách khoa Hà Nội nhận xét.Hơn 20 vấn đề, điểm nghẽn liên ngành, liên lĩnh vực đã được tháo gỡ, từ thể chế, tài chính; hạ tầng số, dữ liệu; dịch vụ công; công nghệ chiến lược, đến mô hình “3 nhà: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp”, an ninh mạng và nhân lực số. Thực tiễn cho thấy, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không thể xử lý rời rạc, mà cần một cuộc chuyển đổi sâu rộng, toàn diện của cả hệ thống chính trị.Cũng bởi tính toàn diện và sự ảnh hưởng sâu rộng đó, Nghị quyết 57 không tách rời, mà liên kết chặt chẽ với các Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, xây dựng pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân, an ninh năng lượng và phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Sự đồng bộ đó tạo thành một hệ mục tiêu thống nhất, để mọi chủ thể cùng hành động, cùng tạo ra kết quả.Quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và các giải pháp được đề ra tại Nghị quyết 57 đã được cụ thể hóa thành 1.298 nhiệm vụ trọng tâm của năm 2025, giao cho từng bộ, ngành, địa phương thực hiện. Các nhiệm vụ đều có các mốc thời gian, theo dõi tiến độ, kiểm đếm kết quả và gắn trách nhiệm của người đứng đầu, với yêu cầu “rõ việc - rõ trách nhiệm - rõ thời hạn - rõ kết quả”.Đây là lí do Hệ thống thông tin giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 57 ra đời. Hệ thống được thiết kế trên cơ sở Bộ Chỉ số đa tầng, bao gồm nhóm chỉ số chiến lược và nhóm chỉ số tác nghiệp tạo thành một khung thống nhất. Mục tiêu là để đo lường toàn diện, khách quan tiến độ, kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết 57. Ban Chỉ đạo có thể theo dõi tiến độ và mức độ hoàn thành từng nhiệm vụ cụ thể theo thời gian thực từ cấp Trung ương cho tới tận từng xã phường.“Lần đầu tiên có một Nghị quyết của Bộ Chính trị được ứng dụng công nghệ số để theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện. Từ đó phân bổ nguồn lực, điều chỉnh lại cách làm, gần như không có thời gian chờ, thời gian trễ”, ông Đỗ Công Anh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu, Văn Phòng Trung ương Đảng đánh giá.Nhờ sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Ban Chỉ đạo và nỗ lực của cả hệ thống chính trị, việc triển khai Nghị quyết 57 đã ghi nhận những kết quả rõ nét ngay trong năm đầu tiên triển khai.Từ 1/7/2025, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được vận hành trên cả nước, đánh dấu mốc lịch sử cho một giai đoạn mới. Để thực hiện thành công mô hình này, chuyển đổi số được ví như “hệ thần kinh trung ương”, là cầu nối sống còn giữa tỉnh và xã.Chuyển đổi số là điều kiện then chốt để triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Hiện đã có 18 địa phương đã thực hiện 100% thủ tục không phụ thuộc địa giới hành chính, giúp người dân tiết kiệm được nhiều công sức và thời gian đi lại, chờ đợi, khi họ có thể làm thủ tục tại bất cứ trung tâm dịch vụ công nào gần nhất.Cho tới nay, 100% công dân Việt Nam đã có mã định danh; hơn 87 triệu căn cước gắn chip được cấp; 67 triệu tài khoản VNeID đã kích hoạt; 50 tiện ích và 12 loại giấy tờ thiết yếu như căn cước công dân, giấy phép lái xe, đăng ký xe, bảo hiểm y tế… đã được tích hợp lên ứng dụng VNeID.Đặc biệt, từ ngày 1/10/2025, người dân thực hiện 25 dịch vụ công thiết yếu không phải nộp giấy tờ, nhờ dữ liệu đã được tích hợp sẵn trên VNeID. Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến trên nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư dự kiến giúp tiết kiệm khoảng 2.500 tỷ đồng mỗi năm.Năm 2025, Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), dẫn đầu nhóm nước thu nhập trung bình thấp. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo đứng thứ 55 toàn cầu, thứ 5 ASEAN. Năm 2025 cả nước có thêm 42 doanh nghiệp khoa học công nghệ.Kinh tế tư nhân được thúc đẩy mạnh mẽ, doanh nghiệp tư nhân trở thành lực lượng tiên phong của đổi mới sáng tạo. Dòng vốn tư nhân tăng mạnh khi 2,3 tỷ USD được rót vào 141 thương vụ trong năm. Hệ sinh thái đầu tư mạo hiểm mở rộng với 72 quỹ.Ông Gunish Chawla, Giám đốc điều hành Khu vực thương mại, AWS ASEAN đánh giá, hạ tầng số của Việt Nam đã cho thấy sự tăng trưởng ấn tượng những năm qua. Điều này có được là nhờ các chính sách của Chính phủ cũng như sự đầu tư của khối tư nhân, thúc đẩy kết nối Internet tốc độ cao. Tất cả những điều này sẽ giúp cho cả doanh nghiệp trong và ngoài nước có thể dễ dàng xâm nhập vào thị trường công nghệ Việt Nam.Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết công tác phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, năm 2025 hoàn thành giai đoạn “khởi động, chạy đà”, năm 2026 phải chuyển ngay sang “tăng tốc”. Điều quyết định trong giai đoạn này là năng lực tổ chức thực hiện, là kỷ luật hành động, là kết quả đầu ra.“Mỗi bộ, ngành, địa phương cần chuyển cách làm theo kế hoạch sang cách làm theo mục tiêu và sản phẩm; từ báo cáo tiến độ sang báo cáo về hiệu quả; từ có làm sang phải làm đến nơi, đến chốn, làm đến có kết quả”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh.Triển khai Nghị quyết 57 là quá trình chuyển đổi sâu rộng, tác động tới thể chế, bộ máy và phương thức quản trị của toàn hệ thống. Kết quả cần thời gian để thể chế hóa, vận hành và kiểm chứng, rồi chuyển hóa thành năng suất, giá trị mới cho nền kinh tế.