Phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Nhân dân luôn là cội nguồn sức mạnh, là chủ thể sáng tạo nên mọi giá trị vật chất và tinh thần, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.


 

Ảnh minh họa. (Ảnh: Báo Nhân Dân).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân”(1). Kế thừa và phát triển tư tưởng ấy, Đảng ta khẳng định phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nhân tố bảo đảm cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam nêu rõ, sự phát triển nhận thức lý luận, về công tác dân vận và xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân.

Điểm đầu tiên là: “Khẳng định Dân là gốc, là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới đất nước, của công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Bổ sung, phát triển, từng bước hoàn thiện quan điểm về dân chủ và mở rộng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân”.

Bước vào kỷ nguyên mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số, cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng những thách thức an ninh phi truyền thống thì việc phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, mở rộng và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc càng trở thành yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quyết định để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên mới, vai trò chủ thể của Nhân dân càng phải được khẳng định và phát huy mạnh mẽ. Thực tiễn đòi hỏi không chỉ thừa nhận nhân dân là trung tâm, là mục tiêu của sự phát triển, mà còn phải coi nhân dân là chủ thể trực tiếp tham gia hoạch định, tổ chức, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển đất nước.

Nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; Nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực… Điều đó có nghĩa là quyền lực của nhân dân phải được hiện thực hóa bằng những thiết chế dân chủ thực chất, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trên tất cả các lĩnh vực.

Phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong kỷ nguyên mới trước hết là làm cho Nhân dân thật sự được trao quyền và có điều kiện thực thi quyền làm chủ. Cần thiết chế hóa đầy đủ cơ chế dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng các kênh để Nhân dân tham gia phản biện, góp ý, đồng thời bảo đảm cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, phòng ngừa tình trạng lạm quyền, quan liêu, xa dân.

Cùng với đó, phải đặc biệt coi trọng công tác dân vận, xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, hướng mạnh về cơ sở.

Trong thời đại công nghệ số, việc phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân còn gắn liền với việc mở rộng dân chủ trên không gian mạng, tạo điều kiện để tiếng nói của nhân dân được lắng nghe, tiếp nhận kịp thời, góp phần xây dựng xã hội minh bạch, công khai và đồng thuận.

Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta nhiều lần khẳng định: dân chủ là “sợi chỉ đỏ xuyên suốt”, là điều kiện bảo đảm để nhân dân thật sự làm chủ, để mọi đường lối, chủ trương, chính sách đều xuất phát từ lợi ích chính đáng của Nhân dân và vì hạnh phúc của Nhân dân.

Trong kỷ nguyên mới, việc tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa không chỉ mang ý nghĩa khẳng định ưu thế của chế độ chính trị mà còn tạo ra nền tảng để huy động sức sáng tạo, trí tuệ, nguồn lực của toàn xã hội, phục vụ sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới đòi hỏi, trước hết, phải thể chế hóa đầy đủ nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, bảo đảm quyền tham gia của Nhân dân vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội ngày càng thực chất và hiệu quả.

Điều đó không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hay hình thức, mà cần được hiện thực hóa bằng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, bằng các cơ chế để Nhân dân bàn bạc, quyết định và giám sát trực tiếp những vấn đề liên quan đến đời sống của mình. Đồng thời, cần mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, kết hợp hài hòa giữa dân chủ với kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm quyền dân chủ đi đôi với trách nhiệm công dân.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số, phát huy dân chủ còn gắn liền với việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ số, chính quyền số, để Nhân dân dễ dàng tiếp cận thông tin, giám sát, phản biện và tham gia quản trị quốc gia. Đây chính là bước tiến mới trong việc bảo đảm dân chủ thực chất, công khai, minh bạch, tạo ra niềm tin xã hội.

Tuy nhiên, song hành với đó là thách thức: các thế lực thù địch lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá chế độ; sự xuất hiện của những biểu hiện dân chủ cực đoan, quá khích, thậm chí vô chính phủ.

Vì vậy, việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới phải luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - nhân tố bảo đảm dân chủ phát triển đúng hướng, gắn bó mật thiết với lợi ích của Nhân dân và của quốc gia dân tộc.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Thực tiễn cách mạng đã chứng minh, bất kỳ khi nào dân tộc ta khơi dậy và phát huy được sức mạnh đoàn kết thì khi đó đất nước vượt qua thử thách, giành thắng lợi vẻ vang. Trong kỷ nguyên mới, việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc càng có ý nghĩa chiến lược, là điều kiện tiên quyết để đất nước ta hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, phấn đấu đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh hiện nay trước hết đòi hỏi củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta và dân tộc ta đã lựa chọn. Chỉ khi lòng dân quy tụ, niềm tin được bồi đắp thì khối đại đoàn kết mới thật sự bền vững.

Cùng với đó, phải chăm lo lợi ích chính đáng của Nhân dân, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội, thu hẹp chênh lệch vùng miền, tạo cơ hội phát triển cho mọi người. Đây chính là nền tảng vật chất và tinh thần vững chắc để gắn kết mọi thành phần trong xã hội, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến hải đảo.

Trong kỷ nguyên số, đại đoàn kết toàn dân tộc còn mang nội hàm mới: đó là đoàn kết trên không gian mạng, đoàn kết trong việc bảo vệ chủ quyền số, an ninh mạng và nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng mạng xã hội để chia rẽ khối đoàn kết, gieo rắc hoài nghi, kích động mâu thuẫn. Vì vậy, phát huy đại đoàn kết hiện nay không chỉ là gắn kết truyền thống giữa các giai tầng xã hội, giữa các dân tộc, tôn giáo, mà còn phải xây dựng “lá chắn tinh thần” vững chắc trên không gian mạng, phát huy vai trò tiên phong của mỗi cán bộ, đảng viên và trách nhiệm công dân của từng người dân.

Bên cạnh đó, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới phải bao hàm cả sự gắn kết với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đây là bộ phận máu thịt của dân tộc. Khi được khơi dậy lòng tự hào, tạo điều kiện thuận lợi, kiều bào sẽ trở thành nguồn lực quan trọng về trí tuệ, tài chính, công nghệ và uy tín quốc tế để góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.

Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa và củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là sự tiếp nối truyền thống ngàn đời của dân tộc ta, mà còn là yêu cầu khách quan, cấp thiết trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, cạnh tranh gay gắt và những biến động khó lường của tình hình thế giới, việc quán triệt và hiện thực hóa đồng bộ ba trụ cột: phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa và củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chính là nền tảng tiếp tục khẳng định và bảo đảm cho sự trường tồn của chế độ, là động lực để đất nước phát triển nhanh, bền vững và hội nhập thành công.

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.10, tr.453.

Theo nhandan.vn

Link: https://nhandan.vn/phat-huy-vai-tro-chu-the-cua-nhan-dan-dan-chu-xa-hoi-chu-nghia-va-suc-manh-dai-doan-ket-toan-dan-toc-post919915.html

Xem nhiều nhất

Suy ngẫm về tư tưởng "lấy dân làm gốc" nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Bác Hồ

Thông tin tuyên truyền 1 ngày trước

Từ những ngày chuẩn bị giành chính quyền, Bác Hồ đã khẳng định chân lý "Nước lấy dân làm gốc". Với Bác, "gốc" chính là tài dân, lực lượng dân, của dân, lòng dân, quyền dân. Người căn dặn: "Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" (1). Tư tưởng ấy được Bác cụ thể hóa bằng những luận điểm giản dị mà thấm thía: "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân...Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân (2).Đặc biệt, Bác luôn coi trọng chính quyền cơ sở - cấp gần dân nhất. Bác yêu cầu tổ chức chính quyền phải gọn nhẹ, rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo và mỗi cán bộ thực sự là "công bộc của dân". Người chỉ rõ tinh, gọn bộ máy là nhằm xây dựng cơ quan nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả, mang lại lợi ích cho đất nước; tránh rườm rà, cồng kềnh, thực hiện chủ trương nhanh, gọn và tiện lợi; góp phần giảm bớt chi phí ngân sách và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân.Bác yêu cầu: "…tổ chức còn kềnh càng, thừa người, phải sắp xếp cho gọn gàng, hợp lý…" (3); "Về biên chế - từ các bộ, các ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và càng ngày càng phình ra. Vì vậy mà sinh ra quan liêu, lãng phí" (4). Người phê phán tình trạng bộ máy cồng kềnh, quan liêu, xa rời thực tiễn, coi đó là một trong những nguyên nhân làm giảm sút hiệu quả quản lý và ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân.Những lời dạy của Bác mãi mãi là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân làm trung tâm. Việc chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hiện thực hóa tư tưởng "gần dân, sát dân" của Bác, đồng thời thể hiện rõ tư duy đổi mới trong quản trị xã hội của Đảng, Nhà nước.Sau gần một năm vận hành, mô hình chính quyền địa phương hai cấp bước đầu phát huy hiệu quả, mang lại những thay đổi rõ nét trong phương thức phục vụ nhân dân. Chính quyền cấp xã không còn là "mắt xích thụ động" trong guồng máy hành chính mà vươn mình thành thực thể tự chủ: tự quyết, tự làm, tự chịu trách nhiệm, chủ động kiến tạo và phục vụ nhân dân ngay từ gốc.Người dân giờ đây không còn phải "chạy sở, đợi huyện". Mô hình "Một cửa, một lần, không trung gian" đã xóa nhòa những quãng đường xa, cắt bớt những ngày chờ đợi. Nền tảng số hóa như cánh tay nối dài, hồ sơ trực tuyến, thanh toán không tiền mặt, làm thủ tục mọi lúc mọi nơi.Có nơi, cán bộ đến tận nhà trả kết quả (mô hình "hai phục vụ" tại xã đảo Minh Châu - Hà Nội) (5); mô hình "Ngày thứ Bảy hành chính lưu động" tại Quảng Ngãi, cán bộ vào tận bản làng vùng sâu để tiếp nhận thủ tục hành chính, hướng dẫn bà con (6). Hình ảnh người cán bộ tận tụy đến từng nhà, từng bản chính là sự cụ thể hóa sinh động nhất lời Bác dạy "Việc lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc hại đến dân, ta phải hết sức tránh".Tại phường An Hải (Hải Phòng), người dân có thể đến bất cứ đơn vị hành chính nào trên địa bàn để giải quyết thủ tục (7); tại phường Hạc Thành (Thanh Hóa), phần lớn hồ sơ được giải quyết trước hạn. Ở Nghệ An (xã Sơn Lâm), ngày trước chuyển nhượng đất cho con phải chạy xe 20km lên huyện, nay chỉ còn chưa đầy 20 phút tại trụ sở xã (8).Tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp về dịch vụ công, thủ tục hành chính tăng lên rõ rệt. Tại Hà Nội tỷ lệ này đạt gần 99% (9), Khánh Hòa 88,24% (10), Hải Phòng 90% hồ sơ trước hạn. Đặc biệt, tại Đặc khu Phú Quý (Lâm Đồng) có tới 99,94% hồ sơ giải quyết đúng hạn. Tại Đà Nẵng, kết quả khảo sát ghi nhận hoạt động Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã hiệu quả, đáp ứng đúng mục tiêu, yêu cầu (11). Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh/thành khác đang tổ chức thăm dò dư luận đối với hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương hai cấp (12).Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi còn gặp những khó khăn, vướng mắc nhất định. Áp lực công việc của cán bộ, công chức cấp xã tăng lên đáng kể. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở nhiều nơi vừa thừa vừa thiếu. Nhiều cán bộ không có chuyên môn sâu ở các lĩnh vực được phân công, đặc biệt thiếu cán bộ có chuyên môn về công nghệ thông tin, chuyển đổi số.Hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ. Một số lĩnh vực chưa có quy trình, thủ tục được ban hành kịp thời. Một bộ phận cán bộ còn lúng túng, làm việc cầm chừng. Chế độ phụ cấp chưa theo kịp, ảnh hưởng nhất định đến tâm tư và sự gắn bó lâu dài của đội ngũ cán bộ cơ sở.Để lời Bác dạy thấm sâu hơn nữa, thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền một cách rõ ràng - rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cấp xã, coi đây là khâu đột phá. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, giúp giảm thời gian và chi phí, đồng thời tăng tính minh bạch, chống tiêu cực.Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở, bởi như Bác đã dạy: "Dân chúng trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh, có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn... Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân" (13).Cùng với đó, cần tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân theo chuẩn mực "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" - đó chính là nền tảng vững chắc để cán bộ cơ sở vượt qua áp lực.Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, chúng ta không chỉ dâng lên Người những lời ca, những bông hoa tươi thắm, mà còn dâng lên những thành quả cách hành chính - một nền hành chính thực sự của dân, do dân và vì dân. Và quan trọng hơn cả, đó là một thông điệp xuyên suốt: Cải cách bộ máy không phải đích đến mà chỉ là phương tiện để phục vụ nhân dân, để dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ghi chú:1 Nguyễn Thanh Tú (2026), Tư tưởng lấy dân làm gốc của Bác Hồ soi sáng hôm nay, https://www.hcmcpv.org.vn, ngày 10/2/2026.2 Bùi Đình Phong (2020), Tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” soi sáng công tác dân vận hiện nay, https://hochiminh.vn, ngày 13/10/2020.3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.432.4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 13, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.314.5 Báo Hà Nội online (2026), Hà Nội triển khai chính quyền hai cấp gần dân, minh bạch, hiệu quả, https://hanoionline.vn, tháng 11/2025.6 Chu Thanh Vân (2026), Tiếp tục gỡ nút thắt để chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động thông suốt, https://www.vietnamplus.vn, ngày 3/5/2026.7,8 Báo Nhân Dân điện tử (2026), Chính quyền địa phương hai cấp: Bước chuyểnđể phục vụ người dân tốt hơn, https://special.nhandan.vn, Truy cập ngày 7/5/2026.9 Huy Kiên, Lê Hải (2026), Nâng cao chất lượng cải cách hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp, https://hanoi.gov.vn, ngày 7/4/2026.10 Nguyễn Vũ (2026), Cải thiện SIPAS, hướng tới “rất hài lòng”, https://baokhanhhoa.vn, ngày 4/5/2026.11 Hàn Giang (2026), Một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp: Nhìn từ hiệu quả cung cấp dịch vụ hành chính công, https://baodanang.vn, ngày 7/5/2026.12 Tiến Long (2026), TP.HCM lấy ý kiến người dân về hiệu quả vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, https://tuoitre.vn, ngày 6/5/2026.13 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.668.vov.vn🔗Xem link nguồn