Thành phố trực thuộc Trung ương phải có tỷ lệ đô thị hóa từ 45%

Theo tiêu chuẩn mới về đơn vị hành chính, Thường vụ Quốc hội quy định thành phố trực thuộc Trung ương phải có tỷ lệ đô thị hóa tối thiểu 45% và diện tích từ 2.500 km2.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn vừa ký ban hành thông qua Nghị quyết 112/2025, hiệu lực từ đầu năm 2026, về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính.

So với quy định cũ, nghị quyết năm 2025 thiết kế lại cấu trúc tiêu chuẩn theo hướng phân biệt rạch ròi giữa đơn vị hành chính nông thôn và đô thị, tập trung vào việc xác lập các ngưỡng "đủ điều kiện" mang tính nền tảng cho từng loại hình đơn vị hành chính.

Thay đổi lớn nhất của nghị quyết mới nằm ở nhóm tiêu chuẩn đô thị. Thay vì phân tách thành nhiều loại như thành phố trực thuộc trung ương, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận như trước đây, nghị quyết mới thiết kế lại theo hướng tập trung vào hai cấp để chuẩn hóa theo mô hình mới.

Đối với thành phố thuộc Trung ương, tiêu chuẩn dân số được nâng lên tối thiểu 2,5 triệu người, thay cho một triệu người theo quy định cũ. Diện tích tối thiểu lên 2.500 km2 so với 1.500 km2 ở quy định cũ. Ngoài ra, thành phố phải đạt tỷ lệ đô thị hóa từ 45%, đây là tiêu chí lần đầu được bổ sung. Ngoài ra, thành phố có ít nhất 30% đơn vị hành chính cấp xã là phường, đã được công nhận là đô thị loại 1 và giữ vai trò trung tâm tổng hợp cấp quốc gia hoặc cấp vùng.

 

Các dự án bất động sản ven biển tại Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Đông

Một góc thành phố Đà Nẵng. Ảnh: Nguyễn Đông

 

Nghị quyết bổ sung hệ tiêu chí bắt buộc về cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế xã hội đối với thành phố; như yêu cầu không nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương, tỷ trọng công nghiệp dịch vụ đạt từ 80%; thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng cao hơn mức bình quân cả nước.

Với phường, nghị quyết mới cũng nâng ngưỡng dân số lên 21.000 người, cao hơn đáng kể so với mức 5.000–15.000 trước đây. Các tiêu chí về cơ cấu kinh tế, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, thu chi ngân sách và thu nhập bình quân được quy định trực tiếp, thay cho cách chấm điểm chi tiết như trước.

Đối với tỉnh nông thôn, tiêu chuẩn dân số là 900.000 đối với tỉnh miền núi và 1,4 triệu đối với tỉnh thành khác; diện tích tỉnh miền núi phải tối thiểu 8.000 km2 và tỉnh còn lại là 5.000 km2.

Tỉnh phải có định hướng phát triển kinh tế xã hội phù hợp với kế hoạch phát triển 5 năm của cả nước; có ít nhất một đô thị đạt tiêu chuẩn đô thị loại II. Theo quy định cũ, tỉnh chỉ yêu cầu số lượng đơn vị hành chính cấp huyện và không gắn trực tiếp với chất lượng phát triển đô thị.

Với cấp xã, nghị quyết mới nâng mạnh ngưỡng dân số đối với xã không thuộc miền núi, hải đảo, từ 8.000 người lên 16.000 người. Diện tích tối thiểu đối với xã không thuộc khu vực đặc thù vẫn giữ ở mức 30 km2. Xã miền núi và hải đảo được xác lập ngưỡng diện tích và dân số riêng, phù hợp điều kiện tự nhiên và cư trú đặc thù.

Cách điều chỉnh này cho thấy định hướng giảm số lượng xã quy mô nhỏ, đồng thời đặt yêu cầu cao hơn về quy mô dân cư đối với xã ở khu vực đồng bằng, đô thị hóa nhanh.

Nghị quyết 112/2025 cũng quy định chi tiết về nội dung đề án thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính và điều chỉnh địa giới. Theo đó, mỗi đề án phải gồm 5 phần bắt buộc và phụ lục kèm theo, trong đó có bản đồ hiện trạng, bản đồ phương án, phim tài liệu phản ánh điều kiện phát triển kinh tế xã hội và hạ tầng khu vực liên quan.

So với trước, nghị quyết mới quy định chi tiết hơn về việc đặt tên và đổi tên đơn vị hành chính. Tên gọi phải ngắn gọn, dễ nhớ, phù hợp truyền thống lịch sử văn hóa và được nhân dân địa phương đồng thuận. Tên đơn vị hành chính cấp tỉnh không được trùng với bất kỳ đơn vị cùng cấp nào trong cả nước; tên cấp xã không được trùng trong phạm vi cấp tỉnh. Việc đổi tên nếu không gắn với sắp xếp địa giới phải lập đề án riêng, đánh giá đầy đủ tác động, thay vì thực hiện giản lược như trước.

Nghị quyết 112/2025 khẳng định các đơn vị hành chính đã hình thành trước ngày nghị quyết có hiệu lực không phải đánh giá lại theo tiêu chuẩn mới. Trường hợp điều chỉnh địa giới với mức biến động diện tích không quá 20% và không làm thay đổi số lượng đơn vị hành chính cũng được miễn đánh giá lại tiêu chuẩn.

Thảo luận về Nghị quyết này trước khi thông qua, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nói nghị quyết ban hành vào bối cảnh này là cần thiết do Luật Tổ chức chính quyền địa phương và hệ thống đô thị đã thay đổi. Nghị quyết nhằm phục vụ quản lý phát triển kinh tế xã hội, không phải để tiếp tục sắp xếp đơn vị hành chính.

Hiện nay cả nước có 34 tỉnh, thành phố và 3.321 đơn vị cấp xã, trong nhiều năm tới cấp có thẩm quyền chưa có chủ trương tiếp tục chia tách hay sáp nhập, ông nói.

 

Theo VNE

Link: https://vnexpress.net/thanh-pho-truc-thuoc-trung-uong-phai-co-ty-le-do-thi-hoa-tu-45-5001652.html

Xem nhiều nhất

Các Bộ hoàn thành sắp xếp bộ máy gắn với phân cấp, phân quyền trong tháng 10

Tin trong nước 1 ngày trước

Chính phủ ra Nghị quyết số 221/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.Cụ thể hoá các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phươngChương trình nhằm tổ chức triển khai nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả Kết luận số 76-KL/TW và Kế hoạch số 06-KH/TW; tạo sự thống nhất cao trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.Bám sát quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại Kết luận số 76-KL/TW, Kế hoạch số 06-KH/TW và các chủ trương, kết luận có liên quan của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; bảo đảm việc triển khai đúng định hướng, đúng thẩm quyền, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương.Đồng thời, cụ thể hóa các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương; xác định rõ nhiệm vụ, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, sản phẩm, thời hạn hoàn thành và cơ chế theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá.Các nhiệm vụ, giải pháp phải cụ thể, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm; xác định rõ việc cần làm ngay, việc thực hiện thường xuyên; bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả.Bên cạnh đó, đề cao trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc; tăng cường theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện. Chín  nhiệm vu, giải pháp Chương trình đưa ra 9 nhiệm vụ, giải pháp sau:Quán triệt, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 76-KL/TW và Kế hoạch số 06-KH/TW; Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực, công cụ thực thi và kiểm soát quyền lực, cắt giảm thủ tục hành chính; nghiên cứu xây dựng khu kinh tế đặc biệt để tạo không gian phát triển mới, nghiên cứu mô hình đơn vị hành chính cấp xã mang tính hạt nhân; nghiên cứu khung tổ chức hệ thống hành chính nhà nước phù hợp với mô hình mới; rà soát, hoàn thiện tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức kinh tế-kỹ thuật, bảo đảm nguồn lực cho cấp xã.Cùng với đó, sắp xếp, tinh gọn bộ máy bên trong các bộ, cơ quan ngang bộ và sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập; cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cấp xã; đẩy mạnh chuyển đổi số, liên thông dữ liệu, chuẩn hóa phần mềm phục vụ vận hành mô hình 2 cấp; xử lý hiệu quả trụ sở, tài sản công, hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp.Đẩy nhanh tiến độ rà soát, ban hành các văn bản pháp luật, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế cho địa phươngVề hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, Nghị quyết nêu ra yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy nhanh tiến độ rà soát, ban hành các văn bản pháp luật quy định chi tiết, thi hành nhằm tháo gỡ dứt điểm, kịp thời điểm nghẽn về thể chế cho địa phương; đồng bộ hệ thống pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và cơ chế kiểm soát quyền lực.Trọng tâm là xử lý các quy định còn chồng chéo, giao thoa, chưa rõ trách nhiệm hoặc chưa phù hợp với mô hình mới; bảo đảm một việc có một cơ quan chủ trì, một đầu mối chịu trách nhiệm chính, một nguồn dữ liệu liệu dùng chung, một quy trình phối hợp liên thông và một cơ chế kiểm tra, giám sát. Đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính (thực hiện thường xuyên).Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan (Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Việt Nam,...) tổ chức rà soát, cắt giảm thủ tục xác nhận, xác minh, xin ý kiến, thỏa thuận trong giải quyết hồ sơ, đặc biệt lưu ý cắt giảm dựa trên dữ liệu, liên thông điện tử của các cơ quan nhà nước, hạn chế tối đa đẩy trách nhiệm cho người dân, doanh nghiệp; bảo đảm tính thống nhất, liên thông và hiệu quả trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp (hoàn thành trong tháng 10/2027).Đồng thời, Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan ngang bộ trong quá trình sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cho địa phương, nhất là cấp xã, bảo đảm bộ máy chính quyền cơ sở tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (thực hiện thường xuyên).Bổ sung, điều chỉnh các quy định pháp luật về tổ chức bộ máy trong tháng 10/2026Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan ngang bộ sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy (hoàn thành trong tháng 10/2026).Bên cạnh đó, tiếp tục rà soát các nhiệm vụ đã phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cho địa phương, nhất là cấp xã; đánh giá mức độ phù hợp, khả năng thực hiện và điều kiện bảo đảm.Phân cấp, phân quyền phải thực chất, theo phương châm "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm"; đồng thời gắn với nhân lực, kinh phí, dữ liệu, hạ tầng số, hướng dẫn chuyên môn, công cụ thực thi và cơ chế hậu kiểm. Kiên quyết chấm dứt tình trạng giao nhiệm vụ nhưng không bảo đảm điều kiện thực hiện (thực hiện thường xuyên).vietnamplus.vn🔗Xem link nguồn