Từ lợi thế giá rẻ đến sáng tạo: Việt Nam tìm "công thức" tăng trưởng mới

Từ lợi thế lao động giá rẻ và khai thác nguồn lực sẵn có, Việt Nam đang chuyển sang tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tìm “công thức” mới để nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Việt Nam chính thức được xếp vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, với tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người đạt 4.970 USD năm 2025. Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam đứng trước yêu cầu phải thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng.

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam được Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thông qua xác định “đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược” để “hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước”.

Từ lợi thế lao động giá rẻ và khai thác nguồn lực sẵn có, Việt Nam đang chuyển sang tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tìm “công thức” tăng trưởng mới (Ảnh minh họa: KT)

Trọng tâm của mô hình mới là đổi mới quản trị quốc gia, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát huy sức mạnh con người, qua đó tạo động lực cho tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới; đến năm 2035 hoàn thành cơ bản quá trình chuyển sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; đến năm 2045 hoàn thành chuyển đổi sang mô hình này, với các mô hình thành phần vận hành đồng bộ, hài hòa, hiệu quả.

Để đạt mục tiêu, 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp được đề ra, trong đó có nhiều hướng đi mới như xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển; phát triển kinh tế không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian ngầm; hoàn thiện các loại thị trường; cải cách sâu rộng hệ thống tài chính; đổi mới cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực quốc gia.

Từ tăng trưởng dựa vào vốn, lao động sang tăng trưởng bằng năng suất

Theo GS. TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Quốc dân, sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, vị thế quốc tế không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, dư địa của các động lực truyền thống đang dần thu hẹp. Lợi thế lao động chi phí thấp không còn lớn như trước khi thu nhập bình quân tăng lên và quá trình già hóa dân số bắt đầu diễn ra. Hiệu quả sử dụng vốn cũng đứng trước yêu cầu phải được nâng cao.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam không thể tiếp tục chủ yếu dựa vào việc huy động thêm vốn, lao động hay khai thác các lợi thế sẵn có. Bài toán quan trọng hơn là tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực.

GS. TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

“Đổi mới mô hình tăng trưởng thực chất là đổi mới cách thức nền kinh tế tạo ra giá trị, năng suất và năng lực cạnh tranh. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thì nay phải chuyển sang khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh”, GS.TS. Hoàng Văn Cường đánh giá.

Theo ông, đây là quá trình chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu; từ gia công, lắp ráp sang sáng tạo, thiết kế và từng bước làm chủ công nghệ; từ lợi thế chi phí thấp sang lợi thế cạnh tranh bằng tri thức, công nghệ và năng suất.

Để biến công nghệ thành động lực tăng trưởng, GS.TS. Hoàng Văn Cường cho rằng, cần khuyến khích doanh nghiệp tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới công nghệ, tự động hóa và số hóa quản trị; lựa chọn các ngành công nghệ chiến lược có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn.

Cùng với đó là xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia với sự liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, các quỹ đầu tư và thị trường.

AI cũng đang làm thay đổi thị trường lao động. Nhiều công việc mang tính lặp lại có thể được thay thế, buộc người lao động chuyển sang những công việc có giá trị cao hơn, đòi hỏi năng lực sáng tạo, quản trị và làm chủ công nghệ. Khi đó, AI và công nghệ số sẽ góp phần nâng năng suất lao động lên nhiều lần, tạo ra động lực tăng trưởng hoàn toàn mới.

Cải cách thể chế để mở “không gian tăng trưởng” mới

Công nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ có thể phát huy khi có một môi trường đủ rộng để thử nghiệm và phát triển. Vì vậy, cải cách thể chế được các chuyên gia xem là khâu đột phá.

Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước luôn xác định thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Doanh nghiệp hiện vẫn phải gánh chịu nhiều chi phí phát sinh từ sự chồng chéo của quy định pháp luật, thủ tục hành chính phức tạp và những chi phí giao dịch không cần thiết.

“Mục tiêu giảm khoảng 30% chi phí tuân thủ pháp luật sẽ tạo thêm nguồn lực rất lớn cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao năng suất”, TS. Nguyễn Quốc Việt đánh giá.

Cải cách thể chế cũng cần đi cùng thay đổi phương thức quản lý, từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Đây là điều kiện để cơ quan quản lý và doanh nghiệp có thêm không gian đổi mới trước sự xuất hiện của những mô hình kinh doanh mới.

Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, AI và các ngành công nghệ mới đều cần một hệ thống thể chế linh hoạt hơn để tạo lập những “không gian tăng trưởng” mới. Nếu thể chế chậm đổi mới, chính nó sẽ trở thành lực cản đối với quá trình phát triển.

Cùng với thể chế, hiệu quả phân bổ nguồn lực cũng quyết định chất lượng tăng trưởng. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, trong bối cảnh nguồn lực luôn có giới hạn, vấn đề không chỉ là huy động được nhiều vốn hơn mà phải phân bổ đúng vào những lĩnh vực có khả năng tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao nhất. Đây là điều kiện để nền kinh tế vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa bảo đảm hiệu quả đầu tư và ổn định kinh tế vĩ mô.

Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, không nền kinh tế nào có thể bước lên nhóm dẫn đầu nếu tiếp tục dựa vào những lợi thế của quá khứ. Với Việt Nam, dư địa của mô hình cũ đang thu hẹp, trong khi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, AI và dữ liệu mở ra những không gian phát triển mới.

Thách thức vì thế không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn, mà là đổi cách tạo ra tăng trưởng: từ dựa vào vốn và lao động sang nâng năng suất; từ gia công sang sáng tạo; từ khai thác lợi thế sẵn có sang tạo dựng lợi thế cạnh tranh bằng công nghệ, tri thức và con người. Đây là nền tảng để Việt Nam tạo ra động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Xem nhiều nhất

Một Việt Nam chủ động, xây dựng và có trách nhiệm

Tin trong nước 1 ngày trước

Đó là tâm thế của một Việt Nam không chỉ thích ứng với thay đổi, mà chủ động tham gia tìm kiếm giải pháp và góp phần hình thành những nguyên tắc, chuẩn mực mới. Cạnh tranh địa chiến lược, xung đột, biến đổi khí hậu, an ninh mạng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ đang tạo ra những vấn đề vượt khỏi biên giới quốc gia. Vì vậy, câu hỏi đặt ra không chỉ là mỗi nước được gì, mất gì, mà còn là có thể đóng góp gì cho những lợi ích chung.Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh các nước lớn cần có đóng góp tương xứng với ảnh hưởng của mình; các nước vừa và nhỏ cũng không thể đứng ngoài, mà cần chủ động đề xuất sáng kiến và tham gia giải quyết các vấn đề chung. Thông điệp này cho thấy một cách nhìn nhất quán về vai trò quốc tế của Việt Nam: là một nước đang phát triển, Việt Nam không tự giới hạn mình trong phạm vi lợi ích quốc gia trước mắt, mà chủ động tham gia vào việc giải quyết những vấn đề chung.Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chính sách tại Hiệp hội Chính sách đối ngoại (Hoa Kỳ) ngày 23/9/2026. Ảnh: TTXVNBảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ và tạo dựng môi trường hòa bình cho phát triển vẫn là ưu tiên hàng đầu. Song những lợi ích ấy ngày càng gắn với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực, thế giới. Quan điểm đó thể hiện trong chủ trương củng cố hệ thống quốc tế lấy Liên hợp quốc làm trung tâm, đề cao bình đẳng chủ quyền, tôn trọng độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.Đặc biệt, khi đề cập AI, an ninh mạng và sử dụng không gian vũ trụ vào mục đích hòa bình, một câu hỏi có ý nghĩa ngày càng lớn được đặt ra: công nghệ phát triển để phục vụ ai và được quản trị như thế nào? Quan điểm được nêu rất rõ: công nghệ phải phục vụ con người, con người phải kiểm soát công nghệ và các quốc gia đều cần có cơ hội tiếp cận, cùng hưởng lợi. Đó là sự chuyển dịch từ tâm thế chờ đợi để thích ứng sang chủ động tham gia định hình những chuẩn mực của thế giới mới.Lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là một hành trình đặc biệt: từ hợp tác trong cuộc chiến chống phát xít, trải qua mất mát, thiếu niềm tin, đến bình thường hóa và trở thành Đối tác Chiến lược toàn diện. Đó là một hành trình kiên trì gây dựng lòng tin. Hợp tác tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh, khắc phục hậu quả bom mìn, xử lý dioxin, hỗ trợ người khuyết tật và tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ Việt Nam đã trở thành những nền tảng quan trọng của quá trình hàn gắn. Những cựu binh Hoa Kỳ như John McCain, John Kerry, Bobby Muller cùng nhiều người khác cũng đóng vai trò tích cực trong tiến trình bình thường hóa và vun đắp quan hệ hai nước.Chính tinh thần trách nhiệm và tôn trọng lẫn nhau đã góp phần giúp hai bên vượt qua những khác biệt sâu sắc. Hành trình ấy cho thấy lòng tin không thể hình thành bằng tuyên bố, mà phải được tích lũy qua thời gian, sự tôn trọng và những hành động cụ thể. Quá trình hàn gắn Việt Nam - Hoa Kỳ như một minh chứng rằng những khác biệt tưởng như rất sâu sắc vẫn có thể được hóa giải khi các bên lựa chọn đối thoại, hợp tác và hướng tới tương lai.Để đưa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ tiến xa hơn, cần củng cố nền tảng chính trị, làm sâu sắc hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư, thúc đẩy khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, tiếp tục hàn gắn hậu quả chiến tranh và nâng tầm phối hợp tại khu vực, trên thế giới. Trong đó, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mở ra không gian hợp tác mới.Đào tạo kỹ sư bán dẫn, chuyên gia AI; kết nối trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; nâng cao năng lực để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghệ sẽ giúp quan hệ hai nước tạo ra giá trị vượt lên trên thương mại và đầu tư truyền thống. Mục tiêu không chỉ là tăng kim ngạch hay dòng vốn, mà còn là tạo thêm công nghệ, việc làm, tri thức và năng lực cạnh tranh cho cả hai nền kinh tế.Cùng với đó, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư, nâng cao hiệu quả bảo hộ sở hữu trí tuệ, bảo đảm an toàn dữ liệu, an ninh mạng và tính nhất quán trong thực thi chính sách.Quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện chỉ có chiều sâu khi các khuôn khổ chính trị được chuyển hóa thành lợi ích cụ thể cho doanh nghiệp và người dân hai nước. Tâm thế chủ động “góc nhìn của Việt Nam về ba vấn đề” được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu tại FPA - những biến động của thế giới, lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ và tương lai hợp tác giữa hai nước - cùng quy tụ ở một điểm: trách nhiệm. Trách nhiệm trước những thay đổi của thời đại để không đứng ngoài các vấn đề chung. Trách nhiệm với lịch sử để xử lý quá khứ bằng sự chân thành và hành động cụ thể. Trách nhiệm với tương lai để biến lòng tin thành những giá trị mới.Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho thấy một cách tiếp cận nhất quán: không quên quá khứ, không đứng ngoài hiện tại và không thụ động trước tương lai. Lòng tin phải tiếp tục được chuyển hóa thành những kết quả hợp tác cụ thể, để quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ không chỉ tốt đẹp trên bình diện chính trị, mà còn mang lại những lợi ích thiết thực hơn cho người dân hai nước và đóng góp tích cực hơn cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực, thế giới.vov.vn🔗Xem link nguồn