Thẩm quyền, phạm vi khai thác Cơ sở dữ liệu về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Chính phủ ban hành Nghị định số 197/2026/NĐ-CP quy định cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về thẩm quyền, phạm vi khai thác Cơ sở dữ liệu liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Nghị định này quy định về xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo (sau đây gọi tắt là Cơ sở dữ liệu); tổ chức cập nhật, xử lý, khai thác, sử dụng dữ liệu liên quan đến tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên môi trường số; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Nghị định này áp dụng đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Vị trí, vai trò và giá trị pháp lý của Cơ sở dữ liệu

Nghị định quy định Cơ sở dữ liệu được xây dựng và quản lý tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, nhằm thu thập, lưu trữ, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu được cập nhật, quản lý theo thời gian thực; có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, dữ liệu và pháp luật có liên quan; được khai thác, sử dụng thay thế giấy tờ, tài liệu bản giấy trong trường hợp đáp ứng điều kiện về tính toàn vẹn, xác thực, khả năng truy cập, sử dụng và pháp luật không có quy định khác.

Dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu được số hóa, chuẩn hóa, bao gồm dữ liệu có cấu trúc và dữ liệu phi cấu trúc, được tổ chức và quản lý theo cấu trúc phù hợp, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, liên thông và khai thác giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị theo quy định của pháp luật; xác định và phân loại theo cấp độ an toàn dữ liệu trong quá trình lưu trữ, chia sẻ và khai thác, bảo đảm kiểm soát, theo dõi hoạt động truy cập và kịp thời phát hiện, xử lý sự cố, bảo đảm an ninh mạng, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khi xảy ra sự cố làm lộ, mất hoặc bị truy cập trái phép dữ liệu.

Cơ sở dữ liệu được đặt tại Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Nguyên tắc xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu

Nghị định quy định việc xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu phải tuân thủ các quy định của pháp luật về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Bảo đảm phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, từ điển dữ liệu dùng chung; đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu theo quy định của pháp luật.

Dữ liệu được rà soát, cập nhật, quản lý bảo đảm kịp thời, đầy đủ, chính xác, thống nhất, đồng bộ và đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Bảo đảm việc quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu chặt chẽ, an toàn, ổn định, thông suốt; việc khai thác, sử dụng dữ liệu được thực hiện theo phân quyền, đúng mục đích, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng theo quy định của pháp luật.

Bảo đảm lấy người dân làm trung tâm, tạo điều kiện để người dân theo dõi, giám sát quá trình xử lý vụ việc của mình trên môi trường số.

Việc quản lý, vận hành Cơ sở dữ liệu phải bảo đảm công khai, minh bạch, có khả năng truy xuất nguồn gốc, lịch sử cập nhật và chủ thể thực hiện, có thể kiểm tra, giám sát, làm rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Bảo đảm tự động hóa, số hóa toàn trình quản lý, xử lý dữ liệu, hạn chế tối đa việc xử lý thủ công.

Thẩm quyền, phạm vi khai thác Cơ sở dữ liệu

Nghị định quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân được cấp quyền truy cập vào Cơ sở dữ liệu để thực hiện các hoạt động liên quan đến nhập, chuyển, xử lý đơn; giải quyết, theo dõi, nhận kết quả; khai thác và sử dụng dữ liệu theo chức năng, nhiệm vụ và phạm vi quyền hạn được giao.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu bao gồm:

a) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư, Phó Chủ tịch nước, các Phó Thủ tướng Chính phủ và Thành viên Chính phủ, các Phó Chủ tịch Quốc hội và Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi toàn quốc;

b) Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng và các Ban Đảng Trung ương, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi toàn quốc;

c) Các ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng tỉnh ủy, thành ủy và các Ban thuộc tỉnh ủy, thành ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

d) Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã, Văn phòng và các ban thuộc Đảng ủy cấp xã, cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã.

đ) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có quyền yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật. 

Nghị định nêu rõ: Việc khai thác, sử dụng dữ liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước trong Cơ sở dữ liệu được thực hiện theo quy định pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

Việc khai thác dữ liệu được thực hiện chủ yếu thông qua phương thức điện tử trên cơ sở phân quyền truy cập; hạn chế việc cung cấp dữ liệu bằng văn bản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Công dân có quyền được cung cấp thông tin cá nhân của mình do cơ quan nhà nước thu thập, lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu theo quy định; có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, cập nhật, sửa đổi, bổ sung khi phát hiện thông tin không chính xác theo quy định của pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Xem nhiều nhất

Cấm nhập khẩu thuốc lá điện tử và hàng hóa từ lao động cưỡng bức

Tin trong nước 1 ngày trước

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 292/2026 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương, trong đó bổ sung quy định cụ thể về hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu.Theo nghị định, danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu được thực hiện theo các quy định pháp luật hiện hành và danh mục do cơ quan có thẩm quyền ban hành.Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm công bố chi tiết từng mặt hàng cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu kèm mã số HS (mã phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu), trừ trường hợp pháp luật đã quy định sẵn mã HS.Theo phụ lục ban hành kèm nghị định, danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu gồm một số nhóm như: Vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ; gỗ tròn, gỗ xẻ từ gỗ rừng tự nhiên trong nước; kim cương thô cấm xuất khẩu theo Quy chế Chứng nhận Quy trình Kimberley; thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng...Hàng hóa cấm nhập khẩu gồm: Vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ; pháo các loại (trừ pháo hiệu an toàn hàng hải theo quy định); hóa chất nguy hiểm thuộc danh mục cấm; kim cương thô cấm nhập khẩu theo Quy chế Chứng nhận Quy trình Kimberley; thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.Một cửa hàng bán quần áo second-hand (đồ cũ đã qua sử dụng) nhập khẩu tại TPHCM (Ảnh: Thanh Mai).Ngoài ra, Việt Nam tiếp tục cấm nhập khẩu nhiều loại hàng đã qua sử dụng như quần áo, giày dép, hàng điện tử, điện lạnh, đồ gia dụng, đồ nội thất, xe đạp, xe máy, thiết bị y tế, sản phẩm công nghệ số... Một số loại phương tiện, linh kiện, phụ tùng ô tô đã qua sử dụng hoặc bị tẩy xóa, sửa chữa số khung, số máy cũng thuộc diện cấm nhập khẩu.Nghị định cũng cấm nhập khẩu nhiều mặt hàng đặc thù khác như: Thuốc và nguyên liệu thuốc thuộc danh mục cấm; xuất bản phẩm, sản phẩm văn hóa bị cấm lưu hành; chất thải phóng xạ; thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y cấm sử dụng; mẫu vật động, thực vật hoang dã thuộc diện cấm theo Công ước CITES...Đáng chú ý, nghị định bổ sung quy định cấm nhập khẩu các sản phẩm, hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức từ các doanh nghiệp, quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.Việc cho phép xuất khẩu, nhập khẩu đối với các mặt hàng thuộc diện cấm chỉ được thực hiện trong những trường hợp pháp luật cho phép theo Luật Quản lý ngoại thương và các quy định liên quan. Trường hợp cần thiết, các bộ, cơ quan ngang bộ sẽ ban hành quy định chi tiết về trình tự, thủ tục cấp phép đối với những mặt hàng này.Nghị định cũng quy định cụ thể về hồ sơ và quy trình cấp phép xuất, nhập khẩu đối với các loại hàng hóa thuộc danh mục cấm (trong các trường hợp đặc biệt được pháp luật cho phép), bao gồm cả những sản phẩm liên quan đến hành vi cưỡng bức lao động...dantri.com.vn🔗Xem link nguồn