Hai kịch bản El Nino tác động đến Việt Nam

El Nino có thể suy yếu từ đầu năm 2027, nhưng cũng có khả năng kéo dài đến giữa năm, tạo ra hai kịch bản về hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn tại Việt Nam.

Ngày 21/7, Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) công bố Báo cáo dự báo El Nino 2026-2027. Kịch bản thứ nhất El Nino đạt cường độ trung bình đến mạnh, nhưng suy yếu dần trong những tháng đầu năm 2027. Chỉ số nhiệt độ mặt nước biển khu vực Nino 3.4 (vùng biển ở trung tâm Thái Bình Dương) được dự báo từ 1 đến dưới 2 độ C, với xác suất đạt dải cường độ này trong các thời đoạn dự báo khoảng 88-98%.

Với kịch bản này, nhiệt độ tại Việt Nam có thể cao hơn trung bình nhiều năm khoảng 0,5-1 độ C, lượng mưa thiếu hụt 10-20% và dòng chảy trên nhiều lưu vực sông giảm khoảng 10-20%. Nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn gia tăng, đặc biệt tại duyên hải Nam Trung Bộ, cao nguyên Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, song áp lực có thể giảm khi El Nino suy yếu và mùa mưa năm 2027 bắt đầu.

Khô hạn ở cao nguyên Trung Bộ năm 2024. Ảnh: Đức Hóa

Kịch bản thứ hai xảy ra khi El Nino đạt cường độ rất mạnh và kéo dài đến giữa năm 2027. Chỉ số Nino 3.4 có thể từ 2 độ C trở lên, với xác suất đạt ngưỡng rất mạnh trong các thời đoạn dự báo cao nhất khoảng 60-65%.

Khi đó, nhiệt độ tại Việt Nam có thể cao hơn trung bình nhiều năm 1-2 độ C, lượng mưa thiếu hụt phổ biến 20-40%, cục bộ trên 50% tại Nam Trung Bộ, trong khi dòng chảy trên nhiều lưu vực có thể giảm 20-40%. Nhiều hồ chứa có nguy cơ không tích đủ nước, mùa mưa năm 2027 có thể đến muộn, khiến hạn hán và thiếu nước kéo dài đến giữa năm.

Cục Khí tượng thủy văn đánh giá tác động của El Nino không chỉ nằm ở việc nhiệt độ tăng hay lượng mưa giảm. Trong kịch bản mạnh và kéo dài, các rủi ro có thể nối tiếp và khuếch đại lẫn nhau: mưa ít làm dòng chảy suy giảm, dòng chảy giảm khiến hồ khó tích nước, trong khi nhu cầu tưới và sử dụng điện lại tăng do nắng nóng.

Đồng bằng sông Cửu Long cần đặc biệt theo dõi khi dòng chảy thượng nguồn sông Mekong suy giảm. Nước mặn có thể lấn sâu hơn vào nội đồng, ảnh hưởng đến cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Mức độ rủi ro sẽ tăng nếu mùa mưa năm 2027 đến muộn.

An ninh nguồn nước và an ninh năng lượng cũng được xác định là hai nhóm rủi ro đáng chú ý. Trường hợp El Nino rất mạnh và kéo dài, lượng nước tích trữ tại các hồ thủy điện trên hệ thống sông Đà, Đồng Nai, Sê San và Sêrêpốk có thể thấp hơn trung bình nhiều năm, làm giảm sản lượng thủy điện và tăng áp lực cung ứng điện trong mùa khô 2027.

Khô hạn, xâm nhập mặn ở Cần Thơ năm 2020. Ảnh: Huy Phong

Nông nghiệp có thể chịu tác động kép khi thiếu nước làm giảm năng suất và tăng chi phí sản xuất, trong khi công nghiệp đối mặt nguy cơ thiếu nước phục vụ sản xuất. Các tác động này có thể lan sang hoạt động kinh tế - xã hội thông qua chi phí năng lượng, cấp nước và nhu cầu hỗ trợ sản xuất tăng lên.

Theo báo cáo, mức độ tác động thực tế không hoàn toàn tỷ lệ thuận với cường độ cực đại của El Nino. Thời gian duy trì hiện tượng, lượng nước tích được trong các hồ chứa, dòng chảy đầu nguồn và thời điểm mùa mưa quay trở lại có thể quyết định mức độ nghiêm trọng của tác động.

Vì vậy, nếu El Nino suy yếu sớm, Việt Nam có thể trải qua một mùa khô với nắng nóng, hạn hán và thiếu nước gia tăng nhưng thời gian tác động được rút ngắn. Ngược lại, nếu El Nino đạt cường độ rất mạnh và kéo dài đến giữa năm 2027, các rủi ro có thể cộng dồn, tạo áp lực đồng thời lên nguồn nước, nông nghiệp, năng lượng và cấp nước sinh hoạt.

Các thời điểm cần theo dõi gồm khả năng tích nước của hồ chứa, lượng nước về các hồ thủy điện, đặc biệt trên hệ thống sông Đà trong tháng 5-6/2027, dòng chảy thượng nguồn sông Mekong và diễn biến xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long. Khả năng mùa mưa năm 2027 đến muộn cũng là yếu tố có thể quyết định việc thiếu nước chấm dứt sớm hay kéo dài.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết báo cáo được xây dựng theo hướng chuyển từ dự báo đơn thuần về diễn biến của hiện tượng El Nino sang cảnh báo những tác động cụ thể có thể xảy ra. Cách tiếp cận này nhằm gắn công tác phòng, chống thiên tai với bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế, qua đó hỗ trợ cơ quan quản lý chủ động chuẩn bị phương án ứng phó thay vì chỉ xử lý khi rủi ro đã xảy ra.

Báo cáo được kỳ vọng trở thành công cụ hỗ trợ tham mưu, tạo nền tảng cho việc chuyển từ ứng phó bị động sang quản trị rủi ro chủ động, góp phần bảo vệ mục tiêu phát triển và duy trì ổn định kinh tế - xã hội. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã gửi báo cáo đến các cơ quan, tổ chức để nghiên cứu, tham khảo, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành ứng phó trong thời gian tới.

Xem nhiều nhất

Những điểm mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội

Tin trong nước 1 ngày trước

 Mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động bị phạt tới 70 triệu đồngĐối với vi phạm quy định về việc làm, nghị định quy định:1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi phân biệt đối xử trong việc làm khi không xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc và các hành vi duy trì, bảo vệ việc làm cho người lao động dễ bị tổn thương; trừ các hành vi phân biệt đối xử quy định tại điểm a khoản 2 Điều 11, điểm d khoản 1 Điều 19, khoản 2 Điều 34, khoản 1 Điều 40 và điểm a khoản 2 Điều 41 của nghị định này.2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi khai thác, chia sẻ, sử dụng trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin về thị trường lao động chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố, phổ biến mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.3. Phạt tiền từ 45.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động dịch vụ việc làm mà không phải là tổ chức dịch vụ việc làm được thành lập hợp pháp.4. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sau đây:a) Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện chính sách về việc làm, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;b) Lợi dụng hoạt động dịch vụ việc làm xâm phạm đến chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;c) Mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin về thị trường lao động chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố, phổ biến mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.5. Hình thức xử phạt bổ sungTịch thu tang vật vi phạm hành chính là hồ sơ giả mạo đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 nêu trên.6. Biện pháp khắc phục hậu quảBuộc trả lại cho cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ việc làm khoản tiền đã thu của cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ việc làm và khoản tiền lãi của số tiền này tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 nêu trên.Phạt đến 75 triệu đồng đối với hành vi lôi kéo, dụ dỗ, quảng cáo gian dối để lừa gạt người lao độngĐối với vi phạm quy định về tuyển dụng, quản lý lao động, nghị định quy định:1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:a) Không khai trình việc sử dụng lao động theo quy định;b) Thu tiền của người lao động tham gia tuyển dụng lao động;c) Không thể hiện, nhập đầy đủ thông tin về người lao động vào sổ quản lý lao động kể từ ngày người lao động bắt đầu làm việc;d) Không xuất trình sổ quản lý lao động khi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sau đây:a) Phân biệt đối xử trong lao động trừ các hành vi phân biệt đối xử quy định tại khoản 1 Điều 10, điểm d khoản 1 Điều 19, khoản 2 Điều 34, khoản 1 Điều 40 và điểm a khoản 2 Điều 41 của nghị định này.b) Sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề, công việc phải sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.c) Không báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo quy định.d) Không lập sổ quản lý lao động hoặc lập sổ quản lý lao động không đúng thời hạn hoặc không đảm bảo các nội dung cơ bản theo quy định pháp luật.3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: lôi kéo; dụ dỗ; hứa hẹn; quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.4. Biện pháp khắc phục hậu quảBuộc người sử dụng lao động trả lại cho người lao động khoản tiền đã thu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 nêu trên.Vi phạm về chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộcĐối với vi phạm về chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghị định quy định:1. Phạt cảnh cáo đối với các hành vi quy định tại khoản 3 điều này khi số tiền vi phạm tính tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính dưới 400.000 đồng.2. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội; không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng thuộc trường hợp pháp luật quy định không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật, theo một trong các mức sau đây:a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động.b) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm từ 10 người đến dưới 50 người lao động.c) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm từ 50 người đến dưới 100 người lao động.d) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, khi vi phạm từ 100 người đến dưới 300 người lao động.đ) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, khi vi phạm từ 300 người đến dưới 500 người lao động.e) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, khi vi phạm từ 500 người đến dưới 700 người lao động.g) Từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng, khi vi phạm từ 700 người đến dưới 1.000 người lao động.h) Từ 60.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.3. Phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội sau đây:a) Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã đăng ký kể từ sau ngày đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 39 của Luật Bảo hiểm xã hội;b) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật.4. Biện pháp khắc phục hậu quảa) Buộc người sử dụng lao động lập hồ sơ đăng ký hoặc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động; đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 điều này.b) Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 nêu trên.Vi phạm về trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bị phạt tới 75 triệu đồngVi phạm về trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghị định quy định:1. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội theo một trong các mức sau đây:a) Từ 6.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động.b) Từ 12.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm từ 10 người đến dưới 50 người lao động.c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, khi vi phạm từ 50 người đến dưới 100 người lao động.d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, khi vi phạm từ 100 người đến dưới 300 người lao động.đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, khi vi phạm từ 300 người đến dưới 500 người lao động.e) Từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng, khi vi phạm từ 500 người đến dưới 700 người lao động.g) Từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, khi vi phạm từ 700 người đến dưới 1.000 người lao động.h) Từ 70.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.2. Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội sau đây:a) Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội.b) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.3. Biện pháp khắc phục hậu quảa) Buộc người sử dụng lao động lập hồ sơ đăng ký hoặc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động; đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 nêu trên;b) Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 nêu trên.Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/9/2026.