Dự kiến giám sát việc sử dụng trụ sở công sau sắp xếp tại 12 địa phương

Việc giám sát quản lý, sử dụng trụ sở làm việc sau sắp xếp đơn vị hành chính dự kiến thực hiện tại 5 thành phố và 7 tỉnh, tính từ thời điểm 1/3/2025.

Chiều 10/6, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về kế hoạch và đề cương giám sát chuyên đề "Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công là trụ sở làm việc sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính".

Theo dự thảo, Đoàn giám sát dự kiến tổ chức 4 đoàn công tác đi giám sát, khảo sát tại 12 tỉnh, thành phố, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa, Phú Thọ, TP HCM, Cần Thơ, An Giang, Tây Ninh, Đà Nẵng, Đăk Lăk, Gia Lai, Khánh Hòa.

Trưởng đoàn giám sát là Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng; Phó đoàn Thường trực là ông Phan Văn Mãi, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính. Hái phó đoàn còn lại là ông Phan Chí Hiếu, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và bà Lê Thị Nga, Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát. Ngoài ra, đoàn còn có thành viên, đại biểu và chuyên gia trong lĩnh vực.

Nội dung giám sát lần này sẽ tập trung vào việc xây dựng và ban hành các chính sách, quy định pháp luật liên quan đến quản lý, sử dụng trụ sở làm việc sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính. Đoàn giám sát cũng sẽ xem xét kết quả bố trí, xử lý các trụ sở dôi dư; tình hình quản lý, khai thác và sử dụng tài sản công; việc xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu và ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý tài sản công.

Công tác thanh tra, kiểm toán, xử lý vi phạm cùng trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cũng là nội dung trọng tâm được đưa vào chương trình giám sát.

Phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 10/6. Ảnh: Hoàng Phong

Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng cho biết Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất việc giám sát sẽ được thực hiện kể từ thời điểm các cơ quan, đơn vị bắt đầu sắp xếp tổ chức bộ máy vào ngày 1/3/2025 cho đến hết ngày 31/12/2026.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Đoàn giám sát tiếp tục rà soát, hoàn thiện dự thảo Đề cương báo cáo giám sát cùng các phụ lục liên quan theo hướng tập trung vào những vấn đề lớn, trọng tâm và có tính thực tiễn cao. Nội dung yêu cầu báo cáo cần phục vụ trực tiếp cho việc đánh giá đúng thực trạng, nhận diện những tồn tại, hạn chế, làm rõ nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công là trụ sở làm việc.

Đoàn giám sát được đề nghị nghiên cứu, kế thừa các kết quả giám sát trước đây, tham khảo kết quả sơ kết một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và hệ thống chính trị sau sắp xếp. Đồng thời, các kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chuyên đề, chuyên ngành gần đây cũng cần được khai thác để phục vụ công tác đánh giá một cách toàn diện và khách quan.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cùng Tổ giúp việc của Đoàn giám sát tiếp thu đầy đủ ý kiến đóng góp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bộ, ngành và cơ quan liên quan đối với Kế hoạch giám sát và Đề cương kèm theo.

Xem nhiều nhất

Thẩm quyền, phạm vi khai thác Cơ sở dữ liệu về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Tin trong nước 1 ngày trước

Nghị định này quy định về xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo (sau đây gọi tắt là Cơ sở dữ liệu); tổ chức cập nhật, xử lý, khai thác, sử dụng dữ liệu liên quan đến tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên môi trường số; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.Nghị định này áp dụng đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.Vị trí, vai trò và giá trị pháp lý của Cơ sở dữ liệuNghị định quy định Cơ sở dữ liệu được xây dựng và quản lý tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, nhằm thu thập, lưu trữ, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo.Dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu được cập nhật, quản lý theo thời gian thực; có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, dữ liệu và pháp luật có liên quan; được khai thác, sử dụng thay thế giấy tờ, tài liệu bản giấy trong trường hợp đáp ứng điều kiện về tính toàn vẹn, xác thực, khả năng truy cập, sử dụng và pháp luật không có quy định khác.Dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu được số hóa, chuẩn hóa, bao gồm dữ liệu có cấu trúc và dữ liệu phi cấu trúc, được tổ chức và quản lý theo cấu trúc phù hợp, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, liên thông và khai thác giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị theo quy định của pháp luật; xác định và phân loại theo cấp độ an toàn dữ liệu trong quá trình lưu trữ, chia sẻ và khai thác, bảo đảm kiểm soát, theo dõi hoạt động truy cập và kịp thời phát hiện, xử lý sự cố, bảo đảm an ninh mạng, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khi xảy ra sự cố làm lộ, mất hoặc bị truy cập trái phép dữ liệu.Cơ sở dữ liệu được đặt tại Trung tâm dữ liệu quốc gia.Nguyên tắc xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệuNghị định quy định việc xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu phải tuân thủ các quy định của pháp luật về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật khác có liên quan.Bảo đảm phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, từ điển dữ liệu dùng chung; đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu theo quy định của pháp luật.Dữ liệu được rà soát, cập nhật, quản lý bảo đảm kịp thời, đầy đủ, chính xác, thống nhất, đồng bộ và đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.Bảo đảm việc quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu chặt chẽ, an toàn, ổn định, thông suốt; việc khai thác, sử dụng dữ liệu được thực hiện theo phân quyền, đúng mục đích, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng theo quy định của pháp luật.Bảo đảm lấy người dân làm trung tâm, tạo điều kiện để người dân theo dõi, giám sát quá trình xử lý vụ việc của mình trên môi trường số.Việc quản lý, vận hành Cơ sở dữ liệu phải bảo đảm công khai, minh bạch, có khả năng truy xuất nguồn gốc, lịch sử cập nhật và chủ thể thực hiện, có thể kiểm tra, giám sát, làm rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân.Bảo đảm tự động hóa, số hóa toàn trình quản lý, xử lý dữ liệu, hạn chế tối đa việc xử lý thủ công.Thẩm quyền, phạm vi khai thác Cơ sở dữ liệuNghị định quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân được cấp quyền truy cập vào Cơ sở dữ liệu để thực hiện các hoạt động liên quan đến nhập, chuyển, xử lý đơn; giải quyết, theo dõi, nhận kết quả; khai thác và sử dụng dữ liệu theo chức năng, nhiệm vụ và phạm vi quyền hạn được giao.Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu bao gồm:a) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư, Phó Chủ tịch nước, các Phó Thủ tướng Chính phủ và Thành viên Chính phủ, các Phó Chủ tịch Quốc hội và Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi toàn quốc;b) Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng và các Ban Đảng Trung ương, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi toàn quốc;c) Các ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng tỉnh ủy, thành ủy và các Ban thuộc tỉnh ủy, thành ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;d) Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã, Văn phòng và các ban thuộc Đảng ủy cấp xã, cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã.đ) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có quyền yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật. Nghị định nêu rõ: Việc khai thác, sử dụng dữ liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước trong Cơ sở dữ liệu được thực hiện theo quy định pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.Việc khai thác dữ liệu được thực hiện chủ yếu thông qua phương thức điện tử trên cơ sở phân quyền truy cập; hạn chế việc cung cấp dữ liệu bằng văn bản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.Công dân có quyền được cung cấp thông tin cá nhân của mình do cơ quan nhà nước thu thập, lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu theo quy định; có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, cập nhật, sửa đổi, bổ sung khi phát hiện thông tin không chính xác theo quy định của pháp luật.Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.vov.vn🔗Xem link nguồn