Những điểm mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội

Nhiều quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng vừa được Chính phủ ban hành tại Nghị định số 283/2026/NĐ-CP.

 

Mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động bị phạt tới 70 triệu đồng

Đối với vi phạm quy định về việc làm, nghị định quy định:

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi phân biệt đối xử trong việc làm khi không xuất phát từ yêu cầu đặc thù của công việc và các hành vi duy trì, bảo vệ việc làm cho người lao động dễ bị tổn thương; trừ các hành vi phân biệt đối xử quy định tại điểm a khoản 2 Điều 11, điểm d khoản 1 Điều 19, khoản 2 Điều 34, khoản 1 Điều 40 và điểm a khoản 2 Điều 41 của nghị định này.

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi khai thác, chia sẻ, sử dụng trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin về thị trường lao động chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố, phổ biến mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Phạt tiền từ 45.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động dịch vụ việc làm mà không phải là tổ chức dịch vụ việc làm được thành lập hợp pháp.

4. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sau đây:

a) Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện chính sách về việc làm, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Lợi dụng hoạt động dịch vụ việc làm xâm phạm đến chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc, trật tự, an toàn xã hội, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

c) Mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin về thị trường lao động chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố, phổ biến mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

5. Hình thức xử phạt bổ sung

Tịch thu tang vật vi phạm hành chính là hồ sơ giả mạo đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 nêu trên.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả

Buộc trả lại cho cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ việc làm khoản tiền đã thu của cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ việc làm và khoản tiền lãi của số tiền này tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 nêu trên.

Phạt đến 75 triệu đồng đối với hành vi lôi kéo, dụ dỗ, quảng cáo gian dối để lừa gạt người lao động

Đối với vi phạm quy định về tuyển dụng, quản lý lao động, nghị định quy định:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Không khai trình việc sử dụng lao động theo quy định;

b) Thu tiền của người lao động tham gia tuyển dụng lao động;

c) Không thể hiện, nhập đầy đủ thông tin về người lao động vào sổ quản lý lao động kể từ ngày người lao động bắt đầu làm việc;

d) Không xuất trình sổ quản lý lao động khi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sau đây:

a) Phân biệt đối xử trong lao động trừ các hành vi phân biệt đối xử quy định tại khoản 1 Điều 10, điểm d khoản 1 Điều 19, khoản 2 Điều 34, khoản 1 Điều 40 và điểm a khoản 2 Điều 41 của nghị định này.

b) Sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề, công việc phải sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.

c) Không báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo quy định.

d) Không lập sổ quản lý lao động hoặc lập sổ quản lý lao động không đúng thời hạn hoặc không đảm bảo các nội dung cơ bản theo quy định pháp luật.

3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: lôi kéo; dụ dỗ; hứa hẹn; quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả

Buộc người sử dụng lao động trả lại cho người lao động khoản tiền đã thu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 nêu trên.

Vi phạm về chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

Đối với vi phạm về chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghị định quy định:

1. Phạt cảnh cáo đối với các hành vi quy định tại khoản 3 điều này khi số tiền vi phạm tính tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính dưới 400.000 đồng.

2. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội; không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng thuộc trường hợp pháp luật quy định không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật, theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động.

b) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm từ 10 người đến dưới 50 người lao động.

c) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm từ 50 người đến dưới 100 người lao động.

d) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, khi vi phạm từ 100 người đến dưới 300 người lao động.

đ) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, khi vi phạm từ 300 người đến dưới 500 người lao động.

e) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, khi vi phạm từ 500 người đến dưới 700 người lao động.

g) Từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng, khi vi phạm từ 700 người đến dưới 1.000 người lao động.

h) Từ 60.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.

3. Phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội sau đây:

a) Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã đăng ký kể từ sau ngày đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 39 của Luật Bảo hiểm xã hội;

b) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả

a) Buộc người sử dụng lao động lập hồ sơ đăng ký hoặc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động; đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 điều này.

b) Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 nêu trên.

Vi phạm về trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bị phạt tới 75 triệu đồng

Vi phạm về trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, nghị định quy định:

1. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Bảo hiểm xã hội theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 6.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động.

b) Từ 12.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm từ 10 người đến dưới 50 người lao động.

c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, khi vi phạm từ 50 người đến dưới 100 người lao động.

d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, khi vi phạm từ 100 người đến dưới 300 người lao động.

đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, khi vi phạm từ 300 người đến dưới 500 người lao động.

e) Từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng, khi vi phạm từ 500 người đến dưới 700 người lao động.

g) Từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, khi vi phạm từ 700 người đến dưới 1.000 người lao động.

h) Từ 70.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.

2. Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội sau đây:

a) Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội.

b) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả

a) Buộc người sử dụng lao động lập hồ sơ đăng ký hoặc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động; đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 nêu trên;

b) Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 nêu trên.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/9/2026.

Xem nhiều nhất

4 điểm mới trong dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi đáng chú ý

Tin trong nước 1 ngày trước

Sau hơn 15 năm thực thi, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho công tác quản lý lĩnh vực này. Tuy nhiên, sự phát triển của thương mại điện tử, chuỗi cung ứng toàn cầu và mô hình kinh doanh mới khiến nhiều quy định không còn theo kịp thực tiễn.Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) vì vậy đề xuất nhiều chính sách mới theo hướng quản lý dựa trên nguy cơ, tăng hậu kiểm, đẩy mạnh chuyển đổi số, siết quản lý kinh doanh thực phẩm trên sàn thương mại điện tử và nâng cao trách nhiệm đối với thức ăn đường phố, suất ăn tập thể.Người dân thưởng thức ẩm thực đường phố tại Hà Nội.Kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi cung ứngĐây là chính sách nền tảng của dự thảo Luật, với mục tiêu quản lý an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi cung ứng, từ sản xuất ban đầu đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng, tiệm cận phương thức quản lý của các nước phát triển.Theo đó, công tác quản lý sẽ bao quát các khâu từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ, sơ chế, chế biến, phân phối, lưu thông trên thị trường đến tiêu dùng.Đáng chú ý, cơ quan quản lý nhà nước và các cơ sở kiểm nghiệm sẽ được tăng cường vai trò trong hoạt động kiểm tra, giám sát, chủ động lấy mẫu đối với thực phẩm lưu thông trên thị trường nhằm phát hiện sớm nguy cơ mất an toàn thực phẩm. Siết hậu kiểm, quản chặt sàn thương mại điện tửChính sách này hướng tới đổi mới phương thức quản lý sản phẩm theo toàn bộ vòng đời, bảo đảm tất cả thực phẩm lưu hành trên thị trường đều được giám sát trên cơ sở đánh giá nguy cơ.Đối với giai đoạn trước khi lưu hành, dự thảo quy định từng nhóm thực phẩm sẽ áp dụng phương thức quản lý phù hợp. Một số nhóm phải thực hiện đăng ký bản công bố sản phẩm hoặc công bố tiêu chuẩn áp dụng trước khi đưa ra thị trường, trong khi một số nhóm khác được lưu hành mà không phải công bố trước nhưng vẫn chịu sự kiểm tra, giám sát sau lưu hành.Đối với giai đoạn sau lưu hành, cơ quan quản lý sẽ thực hiện giám sát, phân tích nguy cơ, phòng ngừa, xử lý sự cố và truy xuất nguồn gốc thông qua hệ thống thông tin an toàn thực phẩm thống nhất từ trung ương đến địa phương.Xây dựng "hồ sơ số" cho thực phẩm bằng hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm quốc giaMột trong những thay đổi lớn của dự thảo là thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý an toàn thực phẩm. Theo Bộ Y tế, đây sẽ là nền tảng quan trọng để hiện đại hóa công tác quản lý, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, nâng cao hiệu quả phòng ngừa và kiểm soát rủi ro.Cơ quan quản lý sẽ từng bước số hóa toàn bộ dữ liệu, xử lý thủ tục hành chính trên môi trường điện tử và xây dựng hệ thống thông tin an toàn thực phẩm thống nhất từ trung ương đến địa phương. Dự thảo cũng đề xuất ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), mã số, mã vạch, nhãn điện tử và nền tảng truy xuất nguồn gốc để hỗ trợ phân tích nguy cơ, cảnh báo sớm, thu hồi sản phẩm và xử lý vi phạm.Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu sẽ được kết nối với cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành liên quan nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và rút ngắn thời gian xử lý khi xảy ra sự cố mất an toàn thực phẩm.Tăng trách nhiệm với thức ăn đường phố và suất ăn tập thểDự thảo tiếp tục kế thừa các quy định hiện hành về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với thức ăn đường phố, đồng thời mở rộng áp dụng đối với loại hình cung cấp suất ăn tập thể.Theo đó, các cơ sở phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về địa điểm kinh doanh, nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, dụng cụ chế biến, người trực tiếp kinh doanh; thực hiện lưu mẫu thực phẩm, cập nhật kiến thức chuyên môn và có phương án xử lý khi xảy ra sự cố.Thức ăn đường phố và nỗi lo an toàn thực phẩm. (Ảnh minh họa: Linh Trang)Dự thảo cũng bổ sung trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc lưu giữ hóa đơn, chứng từ hoặc tài liệu chứng minh nguồn gốc nguyên liệu để phục vụ truy xuất khi cần thiết; thực hiện cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm và thông báo thông tin với cơ quan có thẩm quyền tại địa phương.Đồng thời, UBND cấp xã được giao thêm trách nhiệm trong đảm bảo an toàn thực phẩm; chủ động phòng ngừa, xử lý các sự cố và vụ ngộ độc thực phẩm; tiếp nhận phản ánh của người dân; cập nhật thông tin vi phạm, cảnh báo và kết quả xử lý lên hệ thống thông tin an toàn thực phẩm quốc gia.Theo Bộ Y tế, các chính sách mới được xây dựng theo hướng tăng cường hậu kiểm, quản lý dựa trên nguy cơ và ứng dụng công nghệ, vừa bảo đảm an toàn thực phẩm cho người dân, vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư bài bản, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, thay vì gia tăng các thủ tục tiền kiểm còn bộc lộ một số hạn chế.vov.vn🔗Xem link nguồn