Hành khách được hoàn tiền vé nếu chuyến bay chậm 4 giờ

Từ 1/7, hành khách sẽ được hoàn trả toàn bộ tiền vé hoặc phần vé chưa sử dụng, nếu chuyến bay bị chậm từ 4 giờ do lỗi của hãng bay, theo quy định của Chính phủ.

Chính phủ ngày 15/6 ban hành Nghị định 208/2026 về vận tải hàng không, trong đó quy định chuyến bay bị chậm là có thời gian đi thực tế muộn hơn 15 phút so với lịch bay. Chuyến bay bị chậm kéo dài là chậm từ 4 giờ.

Nếu chuyến bay bị chậm, hãng bay có trách nhiệm thông báo và xin lỗi hành khách, đồng thời nêu lý do và cập nhật thời gian dự kiến đi mới để hiển thị trên màn hình tại sân bay ít nhất 30 phút/lần.

Với chuyến bay chậm từ 2 giờ, hãng bay phải phục vụ nước uống hoặc cung cấp phiếu (voucher) có giá trị tương đương cho hành khách. Hãng bay có thể đổi thời gian đi (re-book) hoặc chuyển đổi hành trình (re-route) để hành khách tới được điểm cuối, nếu họ có yêu cầu.

Hành khách làm thủ tục tại sân bay Nội Bài, tháng 6/2022. Ảnh: Ngọc Thành

Chuyến bay chậm từ 3 giờ, hãng bay phải phục vụ đồ ăn hoặc voucher tương đương.

Chuyến bay chậm từ 4 giờ do lỗi của hãng bay, hãng bay phải hoàn trả (refund) toàn bộ tiền vé hoặc tiền phần vé chưa sử dụng, khi hành khách không đồng ý đổi thời gian hoặc đổi chuyến.

Đồng thời, hãng bay phải bồi thường ứng trước không hoàn lại cho hành khách đã được xác nhận chỗ và có vé trên chuyến bay. Việc bồi thường ứng trước được thực hiện một lần với mỗi chuyến bay, bao gồm cả trường hợp chậm chuyến trên khoang.

Với chuyến bay chậm từ 6 giờ, nếu trong khoảng từ 7h đến trước 22h, hãng bay phải bố trí nơi nghỉ phù hợp cho hành khách tại sân bay. Nếu chậm chuyến từ 22h đến 7h sáng hôm sau, hãng bay phải bố trí nơi ngủ, nghỉ cho hành khách tại địa phương hoặc giải pháp thay thế nếu hành khách đồng ý. Quy định này không áp dụng với những hành khách đã nhận hoàn tiền vé.

Các quy định về trách nhiệm đảm bảo ăn, uống, nghỉ cho hành khách nêu trên chỉ áp dụng với những người đã có vé, đã xác nhận chỗ và có mặt tại sân bay.

Chính phủ giao Bộ trưởng Xây dựng quy định chi tiết về mức bồi thường ứng trước không hoàn lại cũng như phương thức và thời gian.

Đồng thời, Chính phủ quy định, từ thời điểm mở bán vé đến lúc công bố lịch bay, nếu hãng bay thay đổi lịch bay sớm hoặc muộn hơn 5 giờ thì phải thông báo và hoàn vé cho hành khách hoặc đổi sang chuyến bay khác trong 72 giờ để hành khách đến nơi cần đến.

Khi tàu bay đóng cửa, có hành khách trên khoang, nhưng thời gian cất cánh chậm từ 30 phút, hãng bay phải phục vụ nước uống, đảm bảo thông gió, nhiệt độ, nhu cầu đi vệ sinh cho hành khách; nếu họ cần hỗ trợ y tế khẩn cấp, phải có biện pháp hỗ trợ. Chuyến bay bị chậm quá 3 giờ và chưa xác định được thời gian đi, hãng bay phải cho hành khách xuống tàu bay.

Nghị định có hiệu lực từ 1/7.

Xem nhiều nhất

Các Bộ hoàn thành sắp xếp bộ máy gắn với phân cấp, phân quyền trong tháng 10

Tin trong nước 1 ngày trước

Chính phủ ra Nghị quyết số 221/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.Cụ thể hoá các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phươngChương trình nhằm tổ chức triển khai nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả Kết luận số 76-KL/TW và Kế hoạch số 06-KH/TW; tạo sự thống nhất cao trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.Bám sát quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại Kết luận số 76-KL/TW, Kế hoạch số 06-KH/TW và các chủ trương, kết luận có liên quan của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; bảo đảm việc triển khai đúng định hướng, đúng thẩm quyền, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương.Đồng thời, cụ thể hóa các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương; xác định rõ nhiệm vụ, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, sản phẩm, thời hạn hoàn thành và cơ chế theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá.Các nhiệm vụ, giải pháp phải cụ thể, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm; xác định rõ việc cần làm ngay, việc thực hiện thường xuyên; bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ kết quả.Bên cạnh đó, đề cao trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc; tăng cường theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện. Chín  nhiệm vu, giải pháp Chương trình đưa ra 9 nhiệm vụ, giải pháp sau:Quán triệt, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 76-KL/TW và Kế hoạch số 06-KH/TW; Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực, công cụ thực thi và kiểm soát quyền lực, cắt giảm thủ tục hành chính; nghiên cứu xây dựng khu kinh tế đặc biệt để tạo không gian phát triển mới, nghiên cứu mô hình đơn vị hành chính cấp xã mang tính hạt nhân; nghiên cứu khung tổ chức hệ thống hành chính nhà nước phù hợp với mô hình mới; rà soát, hoàn thiện tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức kinh tế-kỹ thuật, bảo đảm nguồn lực cho cấp xã.Cùng với đó, sắp xếp, tinh gọn bộ máy bên trong các bộ, cơ quan ngang bộ và sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập; cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cấp xã; đẩy mạnh chuyển đổi số, liên thông dữ liệu, chuẩn hóa phần mềm phục vụ vận hành mô hình 2 cấp; xử lý hiệu quả trụ sở, tài sản công, hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp.Đẩy nhanh tiến độ rà soát, ban hành các văn bản pháp luật, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế cho địa phươngVề hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, Nghị quyết nêu ra yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy nhanh tiến độ rà soát, ban hành các văn bản pháp luật quy định chi tiết, thi hành nhằm tháo gỡ dứt điểm, kịp thời điểm nghẽn về thể chế cho địa phương; đồng bộ hệ thống pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và cơ chế kiểm soát quyền lực.Trọng tâm là xử lý các quy định còn chồng chéo, giao thoa, chưa rõ trách nhiệm hoặc chưa phù hợp với mô hình mới; bảo đảm một việc có một cơ quan chủ trì, một đầu mối chịu trách nhiệm chính, một nguồn dữ liệu liệu dùng chung, một quy trình phối hợp liên thông và một cơ chế kiểm tra, giám sát. Đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính (thực hiện thường xuyên).Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan (Bộ Công an, Bảo hiểm xã hội Việt Nam,...) tổ chức rà soát, cắt giảm thủ tục xác nhận, xác minh, xin ý kiến, thỏa thuận trong giải quyết hồ sơ, đặc biệt lưu ý cắt giảm dựa trên dữ liệu, liên thông điện tử của các cơ quan nhà nước, hạn chế tối đa đẩy trách nhiệm cho người dân, doanh nghiệp; bảo đảm tính thống nhất, liên thông và hiệu quả trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp (hoàn thành trong tháng 10/2027).Đồng thời, Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan ngang bộ trong quá trình sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cho địa phương, nhất là cấp xã, bảo đảm bộ máy chính quyền cơ sở tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (thực hiện thường xuyên).Bổ sung, điều chỉnh các quy định pháp luật về tổ chức bộ máy trong tháng 10/2026Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan ngang bộ sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy (hoàn thành trong tháng 10/2026).Bên cạnh đó, tiếp tục rà soát các nhiệm vụ đã phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cho địa phương, nhất là cấp xã; đánh giá mức độ phù hợp, khả năng thực hiện và điều kiện bảo đảm.Phân cấp, phân quyền phải thực chất, theo phương châm "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm"; đồng thời gắn với nhân lực, kinh phí, dữ liệu, hạ tầng số, hướng dẫn chuyên môn, công cụ thực thi và cơ chế hậu kiểm. Kiên quyết chấm dứt tình trạng giao nhiệm vụ nhưng không bảo đảm điều kiện thực hiện (thực hiện thường xuyên).vietnamplus.vn🔗Xem link nguồn