Hà Tĩnh đổi mới mô hình tăng trưởng: Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh

Thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế”, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, triển khai nhiều giải pháp đồng bộ và đạt được kết quả quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững.

Chủ động ban hành cơ chế, chính sách phù hợp

Ngay sau khi Trung ương ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã kịp thời ban hành Chương trình hành động, cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phù hợp với thực tiễn. UBND tỉnh cùng các sở, ngành liên quan đã xây dựng nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).

Nhiều nghị quyết, đề án lớn được ban hành về phát triển hạ tầng, công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, chuyển đổi số; đồng thời khuyến khích, thu hút đầu tư vào các dự án trọng điểm như Khu kinh tế Vũng Áng, cảng biển Vũng Áng – Sơn Dương, hạ tầng giao thông chiến lược. Đây là những bước đi quan trọng nhằm chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, chú trọng chất lượng và hiệu quả.

Kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu chuyển dịch tích cực

Trong giai đoạn 2016 – 2023, GRDP bình quân của tỉnh đạt trên 5,5%/năm (2016 – 2020) và khoảng 7,5%/năm (2021 – 2023), thuộc nhóm tăng trưởng cao của Bắc Trung Bộ. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tăng nhanh, nông nghiệp giảm dần nhưng vẫn giữ vai trò nền tảng.

Khu kinh tế Vũng Áng trở thành động lực phát triển với nhiều dự án quy mô lớn như Formosa Hà Tĩnh, Nhiệt điện Vũng Áng, các dự án điện gió, điện mặt trời, LNG… đóng góp lớn cho ngân sách và xuất khẩu.

Lãnh đạo tỉnh tham dự Lễ khánh thành Tổ máy số 1 Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II
 

Trong nông nghiệp, tỉnh chú trọng phát triển công nghệ cao, hữu cơ, liên kết chuỗi giá trị; hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung (cam Khe Mây, bưởi Phúc Trạch, lúa chất lượng cao…). Nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm công nghệ cao ở Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Lộc Hà tiếp tục phát triển mạnh.

Dịch vụ, thương mại, du lịch cũng khởi sắc, hạ tầng tại Thiên Cầm, Xuân Thành, Hải Thượng Lãn Ông… được đầu tư, lượng khách du lịch tăng đều qua các năm.

Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư
 

Hà Tĩnh ưu tiên nguồn lực phát triển hạ tầng chiến lược, nhất là giao thông và đô thị. Nhiều công trình trọng điểm hoàn thành như đường ven biển Xuân Hội – Thạch Khê – Vũng Áng, nâng cấp Quốc lộ 1A, cao tốc Bắc – Nam đoạn Bãi Vọt – Vũng Áng, cảng biển Vũng Áng – Sơn Dương… tạo động lực thu hút đầu tư.


 

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016 – 2023 đạt hàng trăm nghìn tỷ đồng; FDI đạt 79 dự án với hơn 12 tỷ USD đăng ký, trong đó Khu kinh tế Vũng Áng tiếp tục là điểm sáng.

Doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh, số lượng đăng ký mới tăng nhanh; nhiều doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số

Xác định cải cách hành chính, chính quyền điện tử và chuyển đổi số là khâu đột phá, Hà Tĩnh đã vận hành Trung tâm Phục vụ hành chính công, triển khai Bộ phận Một cửa các cấp, dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4. Nhờ đó, chỉ số PCI năm 2022 xếp thứ 20/63; chỉ số PAR Index đứng thứ 10; SIPAS thuộc nhóm 15 tỉnh dẫn đầu cả nước.

 

Phát triển văn hóa – xã hội, bảo đảm an sinh

Cùng với phát triển kinh tế, tỉnh quan tâm văn hóa – xã hội, giáo dục, y tế, an sinh. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 3%; chính sách người có công, bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ. Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia cao; nhiều bệnh viện được đầu tư, nâng cấp.

Phong trào xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả nổi bật: đến 2023, có 173/182 xã đạt chuẩn, trong đó 66 xã nâng cao, 23 xã kiểu mẫu; 4/13 huyện đạt chuẩn nông thôn mới.

Hạn chế và bài học kinh nghiệm

Kinh tế vẫn có quy mô nhỏ, sức cạnh tranh chưa cao; hạ tầng một số khu, cụm công nghiệp còn thiếu đồng bộ; nguồn nhân lực chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu; khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo còn hạn chế. Nguyên nhân là điểm xuất phát thấp, nguồn lực hạn chế, thiên tai dịch bệnh tác động, một số cấp ngành chưa thật sự quyết liệt.

Bài học rút ra là phải tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng; cụ thể hóa kịp thời chủ trương, nghị quyết; huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực; coi trọng chất lượng, hiệu quả, bền vững; gắn tăng trưởng kinh tế với an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng – an ninh.

Nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới

• Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp chế biến – chế tạo, năng lượng tái tạo, logistics, du lịch.

• Thu hút đầu tư hạ tầng chiến lược, khu kinh tế, khu công nghiệp; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, tuần hoàn.

• Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số.

• Tiếp tục cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư.

• Quan tâm phát triển văn hóa – xã hội, an sinh; thực hiện tốt chính sách với người có công, hộ nghèo, đồng bào vùng sâu vùng xa.

• Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phòng chống tham nhũng, lãng phí; giữ vững quốc phòng – an ninh, mở rộng đối ngoại.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cách mạng công nghiệp 4.0, việc tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng theo tinh thần Nghị quyết số 05-NQ/TW là nhiệm vụ then chốt để Hà Tĩnh phát triển nhanh, bền vững. Thành công đó đòi hỏi sự đồng thuận, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân, với phương châm “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”.


 

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Hà Tĩnh phê duyệt phương án tổng thể sắp xếp các cơ sở giáo dục công lập

Tin trong tỉnh 1 ngày trước

Xây dựng mạng lưới trường học tinh gọn, đồng bộTheo đó, việc sắp xếp không nhằm mục tiêu giảm số lượng cơ sở giáo dục một cách cơ học mà hướng tới xây dựng hệ thống trường học có quy mô hợp lý, quản trị hiệu quả, sử dụng tối ưu đội ngũ, cơ sở vật chất và các nguồn lực đầu tư; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển bền vững.Phương án được xây dựng trên cơ sở rà soát toàn diện mạng lưới các cơ sở giáo dục, quy mô trường, lớp, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, điều kiện cơ sở vật chất và đặc điểm từng địa bàn. Việc sắp xếp phải phù hợp với quy hoạch phát triển, quy mô dân số, điều kiện địa lý, giao thông, không làm ảnh hưởng đến công tác phổ cập giáo dục và việc học tập của học sinh. Đối với các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, việc sắp xếp được xem xét trên cơ sở điều kiện thực tiễn, khoảng cách đi học và khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, không thực hiện giảm đầu mối theo hướng cơ học.Giảm hơn 58% đầu mối trường học cấp xãTheo phương án, toàn tỉnh hiện có 601 trường mầm non, tiểu học, THCS và trường liên cấp với 9.063 lớp, phục vụ hơn 1,646 triệu dân trên địa bàn 69 xã, phường.Sau sắp xếp, số trường cấp xã giảm còn 248 trường, giảm 353 đầu mối, tương đương khoảng 58,7%. Trong đó: Khối Mầm non: từ 233 trường còn 82 trường, giảm 151 trường (64,81%); Tiểu học: từ 220 trường còn 92 trường, giảm 128 trường (58,18%).; THCS, TH&THCS: từ 148 trường còn 74 trường, giảm 74 trường (50%).Nhiều địa phương có mức tinh gọn lớn như phường Thành Sen giảm từ 29 trường còn 10 trường; xã Đức Thịnh từ 20 còn 5 trường; xã Vũ Quang từ 13 còn 3 trường; xã Hương Sơn từ 12 còn 4 trường; xã Tiên Điền từ 11 còn 3 trường; xã Can Lộc từ 10 còn 6 trường.Sắp xếp 38 trường THPT còn 32 trường THPT và tăng 3 trường THCS-THPTPhương án hợp nhất THPT Phan Đình Phùng và THPT Thành Sen (tỉnh Hà Tĩnh).Đối với giáo dục phổ thông cấp THPT, tỉnh sắp xếp từ 38 trường xuống còn 35 trường.Trong đó, một số trường được hợp nhất để hình thành các trường có quy mô lớn hơn như: Hợp nhất THPT Phan Đình Phùng và THPT Thành Sen, hình thành trường mới có 67 lớp với 2.723 học sinh; Hợp nhất THPT Nguyễn Văn Trỗi và THPT Nguyễn Đổng Chi, quy mô 57 lớp với 2.146 học sinh; Hợp nhất THPT Vũ Quang và THPT Cù Huy Cận, quy mô 33 lớp với 1.075 học sinh.Bên cạnh đó, tỉnh chuyển đổi hai trường THPT thành mô hình liên cấp: THPT Lý Chính Thắng nhập với THCS Nguyễn Khắc Viện, hình thành trường THCS và THPT quy mô 32 lớp, 1.124 học sinh.THPT Đức Thọ nhập với THCS Đồng Lạng, hình thành trường THCS và THPT quy mô 26 lớp, 966 học sinh. Sau sắp xếp, toàn khối THPT có 1.168 lớp với 45.484 học sinh, tăng so với hiện trạng 1.139 lớp và 44.342 học sinh.Giảm còn 5 trung tâm GDNN-GDTXĐối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, tỉnh Hà Tĩnh thực hiện sắp xếp từ 10 trung tâm GDNN-GDTX hiện có xuống còn 5 trung tâm sau sắp xếp, giảm 5 đầu mối, tương ứng 50%. Việc sắp xếp được thực hiện trên cơ sở hợp nhất các đơn vị có quy mô nhỏ, gần nhau về địa bàn, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giáo viên và đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của người dân.Sau sắp xếp, hệ thống GDNN-GDTX vẫn duy trì ổn định quy mô 124 lớp với 4.947 học sinh, không làm gián đoạn hoạt động dạy học; đồng thời tạo điều kiện tập trung nguồn lực, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, giáo dục thường xuyên trên địa bàn.Bố trí đội ngũ gắn với nâng cao chất lượng giáo dụcPhương án yêu cầu việc sắp xếp gắn với đổi mới quản trị nhà trường, tinh gọn đầu mối quản lý, cơ cấu lại đội ngũ theo hướng giảm biên chế quản lý, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất và tài sản công. Sau sắp xếp, toàn ngành dự kiến bố trí 2.395 cán bộ quản lý và nhân viên, giảm 611 người so với hiện trạng (3.006 người).Trong đó: Cán bộ quản lý giảm từ 1.534 xuống còn 978 người, giảm 556 người, gồm giảm 300 hiệu trưởng và 256 phó hiệu trưởng. Nhân viên giảm từ 1.472 xuống còn 1.417 người, giảm 55 người. Theo từng cấp học, khối mầm non giảm 304 cán bộ quản lý và nhân viên; tiểu học giảm 187 người; THCS và TH&THCS giảm 89 người; THPT giảm 8 người; GDNN-GDTX giảm 23 người. Đối với cán bộ quản lý, ưu tiên bố trí những người có năng lực giữ các chức danh lãnh đạo tại các trường sau sắp xếp; thực hiện điều động đến các đơn vị còn thiếu hoặc bố trí làm giáo viên nếu phù hợp chuyên môn. Các trường hợp đủ điều kiện và có nguyện vọng sẽ được xem xét giải quyết chế độ theo quy định.Đối với giáo viên, các cơ sở giáo dục sau sắp xếp tiếp nhận nguyên trạng đội ngũ hiện có; đồng thời rà soát, điều động để khắc phục tình trạng thừa, thiếu cục bộ giữa các địa phương.Bảo đảm ổn định việc dạy và họcĐối với cơ sở vật chất, tỉnh yêu cầu lựa chọn cơ sở phù hợp làm điểm trường chính; các cơ sở còn lại tiếp tục sử dụng làm điểm trường hoặc phục vụ các hoạt động giáo dục, bảo đảm ổn định việc dạy và học. Việc điều chỉnh học sinh giữa các điểm trường chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ, an toàn trường học và phù hợp với thực tiễn địa phương. Quá trình quản lý, bàn giao, tiếp nhận tài sản sau sắp xếp phải tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. Cùng với đó, tỉnh tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, điều hành và quản trị các cơ sở giáo dục nhằm nâng cao chất lượng hoạt động sau sắp xếp.Hoàn thành trước năm học 2026-2027Theo lộ trình, phương án tổng thể hoàn thành trước ngày 4/8/2026. UBND các xã, phường và các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo hoàn thành xây dựng, phê duyệt các đề án sắp xếp trước ngày 20/8/2026. Việc tổ chức lại các cơ sở giáo dục, kiện toàn tổ chức bộ máy và hoàn tất việc bố trí đội ngũ sẽ hoàn thành trước ngày 20/8/2026, bảo đảm các đơn vị hoạt động ổn định ngay từ đầu năm học 2026-2027.UBND tỉnh giao Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai phương án; phối hợp với các sở, ngành, địa phương kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về kết quả thực hiện. Các sở, ngành và UBND các xã, phường có trách nhiệm xây dựng đề án cụ thể theo phạm vi quản lý, tổ chức thực hiện đúng quy trình, tiến độ và quy định của pháp luật.