Phòng chống thiên tai ở Hà Tĩnh: Tuyệt đối không để bị động, bất ngờ

Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh nhấn mạnh, lấy người dân làm trung tâm, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của Nhân dân là mục tiêu cao nhất trong phòng, chống thiên tai những tháng cuối năm 2026.

Bộ CHQS tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị chuẩn bị đầy đủ về nhân lực, phương tiện (xuồng máy, phao cứu sinh) phục vụ công tác phòng, chống thiên tai - tìm kiếm cứu nạn. Ảnh: Văn Đức/Bộ CHQS tỉnh.

 

Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Duy Lâm vừa thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh ký ban hành chỉ thị về công tác phòng, chống thiên tai những tháng cuối năm 2026.

Theo đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, đơn vị tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ và của tỉnh về công tác phòng, chống thiên tai; xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Thực hiện nghiêm phương châm “phòng ngừa là chính, chủ động từ sớm, từ xa, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương, hiệu quả”, lấy người dân làm trung tâm, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của Nhân dân là mục tiêu cao nhất; thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ”, tuyệt đối không để bị động, bất ngờ.

Cấp ủy, chính quyền các cấp, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc công tác phòng, chống thiên tai; khẩn trương rà soát, cập nhật, hoàn thiện phương án, kịch bản ứng phó với từng loại hình thiên tai, nhất là bão mạnh, mưa lớn, lũ, ngập úng, lũ quét, sạt lở đất; kiểm tra, xác định cụ thể các khu vực, địa bàn, công trình có nguy cơ mất an toàn để có phương án xử lý, ứng phó phù hợp. Đặc biệt quan tâm bảo đảm an toàn cho người dân tại các khu vực có nguy cơ cao, vùng thường xuyên bị chia cắt, ngập lụt và các đối tượng yếu thế; kiên quyết không để xảy ra thiệt hại về người do chủ quan, lơ là, thiếu trách nhiệm.

Tăng cường thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về phòng, chống thiên tai; phổ biến, hướng dẫn kỹ năng phòng tránh, ứng phó với bão, mưa lũ, ngập úng, lũ quét, sạt lở đất và các tình huống thiên tai nguy hiểm; bảo đảm thông tin dự báo, cảnh báo được truyền tải nhanh chóng, chính xác, đến đúng đối tượng, nhất là người dân tại khu vực có nguy cơ cao.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, hệ thống thông tin địa lý trong dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai; xây dựng, thường xuyên cập nhật cơ sở dữ liệu số về các hộ dân sinh sống tại khu vực có nguy cơ cao xảy ra ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất, phục vụ chỉ đạo sơ tán nhanh chóng, chính xác. Tăng cường truyền tải thông tin dự báo, cảnh báo, hướng dẫn ứng phó qua các nền tảng số, mạng xã hội thông dụng đến tận thôn, tổ dân phố và người dân.

Phát huy vai trò của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang và cộng đồng dân cư trong phòng ngừa, ứng phó, hỗ trợ, khắc phục hậu quả thiên tai; huy động, quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực hợp pháp, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu Đảng ủy UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo UBND tỉnh tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chỉ đạo của Trung ương và của Tỉnh ủy về công tác phòng, chống thiên tai; chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương, đơn vị khẩn trương rà soát, bổ sung phương án, bố trí đầy đủ lực lượng, phương tiện, vật tư, trang thiết bị, kinh phí và các điều kiện cần thiết, bảo đảm khả năng ứng phó hiệu quả với các tình huống thiên tai theo phương châm “4 tại chỗ”.

Đồng thời, tăng cường kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn triển khai các biện pháp phòng, chống thiên tai trước, trong và sau thiên tai; thường xuyên cập nhật, đánh giá cơ sở dữ liệu về các khu vực có nguy cơ cao xảy ra ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất; tham mưu phương án ứng phó phù hợp, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của Nhân dân.

Tăng cường phòng, chống lũ quét, sạt lở đất; tổ chức rà soát, đánh giá toàn diện các khu vực có nguy cơ cao, nhất là khu dân cư, trường học, công trình hạ tầng, tuyến giao thông, khu vực đồi núi, taluy, khu vực đã từng xảy ra sạt lở và khu vực đang thi công, san gạt đất. Đối với các khu vực có nguy cơ mất an toàn cao, phải khoanh vùng, cắm biển cảnh báo, hạn chế hoạt động, tổ chức sơ tán, di dời người dân đến nơi an toàn khi cần thiết; không để người dân sinh sống, làm việc tại khu vực nguy hiểm khi chưa có giải pháp bảo đảm an toàn. Khẩn trương xử lý các điểm có nguy cơ sạt lở cao, nhất là những vị trí ảnh hưởng trực tiếp đến khu dân cư, trường học, tuyến giao thông và công trình thiết yếu.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống mưa lũ, ngập úng tại Khu kinh tế Vũng Áng...

Chủ động bố trí ngân sách địa phương, kinh phí của cơ quan, đơn vị và huy động các nguồn lực xã hội hóa hợp pháp phục vụ phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; bảo đảm đầy đủ lương thực, nhu yếu phẩm, nước sạch, thuốc men; thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe, vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh và hỗ trợ kịp thời Nhân dân vùng bị ảnh hưởng, nhất là khu vực thường xuyên bị chia cắt, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn về giao thông trong mùa mưa lũ.

Thường xuyên kiểm tra, đánh giá hiện trạng các hồ chứa thủy lợi, thủy điện, đê điều, nhất là các công trình xuống cấp, có nguy cơ mất an toàn; thực hiện nghiêm quy trình vận hành đã được phê duyệt; chủ động phương án bảo đảm an toàn công trình, khu vực hạ du và Nhân dân chịu ảnh hưởng, không để bị động, bất ngờ trong các tình huống thiên tai.

Chủ đầu tư các công trình khắc phục hậu quả thiên tai năm 2025 tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành công trình và giải ngân nguồn vốn trước ngày 31/12/2026. Đối với các công trình phải thi công trong mùa mưa lũ, phải lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện nghiêm phương án phòng, chống thiên tai; chuẩn bị đầy đủ vật tư, phương tiện, trang thiết bị và nhân lực, bảo đảm an toàn công trình, người lao động và khu vực dân cư lân cận.

Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh thường xuyên theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết; nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo sớm về bão, mưa lớn, lũ, ngập úng, lũ quét, sạt lở đất và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm; kịp thời cung cấp thông tin cho các cơ quan, đơn vị, địa phương để triển khai phương án ứng phó, nhất là các tình huống có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, tài sản của Nhân dân.

Chỉ thị cũng giao nhiệm vụ cụ thể cho Đảng ủy HĐND tỉnh, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy, Đảng ủy MTTQ tỉnh, Đảng ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Đảng ủy Công an tỉnh và ban thường vụ đảng ủy các xã, phường trong công tác phòng, chống thiên tai.

Các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các đoàn công tác của Ban Thường vụ Tỉnh ủy có nhiệm vụ tăng cường theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện; kịp thời chỉ đạo các địa phương, đơn vị thực hiện nghiêm các nội dung liên quan.

Xem nhiều nhất

7 nguyên tắc Hà Tĩnh thực hiện Kết luận 107 của Bộ Chính trị về hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm

Tin trong tỉnh 1 ngày trước

Yêu cầu đặt ra là thống nhất nhận thức, khắc phục 3 hạn chế Trung ương đã chỉ rõ: phương pháp và năng lực triển khai chưa đồng đều; chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cơ quan, các cấp còn giao thoa; tư duy giữ nguyên biên chế hiện có. Đồng thời, thực hiện thống nhất quy trình 8 bước, bộ 9 biểu nghiệp vụ theo Hướng dẫn số 07-HD/BTCTW đối với 4 khối (Đảng; HĐND; UBND; MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội) ở cấp tỉnh và cấp xã; toàn tỉnh dùng một bộ biểu, một bộ mã, một bộ số liệu; không làm phát sinh thủ tục, hồ sơ song song.Sản phẩm phải hoàn thành trong năm 2026Danh mục vị trí việc làm toàn tỉnh được rà soát, chuẩn hóa, gắn với nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra và yêu cầu năng lực thực tế (xác định rõ vị trí giữ nguyên, vị trí điều chỉnh, vị trí tích hợp, vị trí đề xuất mới hoặc vị trí bãi bỏ).Cơ sở dữ liệu vị trí việc làm của tỉnh có nguồn, mã tham chiếu, trạng thái kiểm chứng, người xác nhận.Báo cáo xác định nhu cầu nhân lực và Phương án giao biên chế từng năm giai đoạn 2027 - 2031 của tỉnh, kèm theo bản giải trình khoa học, chặt chẽ, có cơ sở kiểm chứng.Danh mục bất cập (nhiệm vụ giao thoa, chồng chéo; thủ tục hành chính bất hợp lý; dữ liệu chưa liên thông; văn bản quy phạm và hướng dẫn cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ) kèm đề xuất xử lý, cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành.7 nguyên tắc thực hiệnXác định vị trí việc làm từ chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc, không từ thực trạng hiện cóVị trí việc làm xác định xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, công việc ổn định, sản phẩm đầu ra, trách nhiệm và năng lực cần có; tuyệt đối không xuất phát từ số người hiện có, chức danh, ngạch, bậc, mức lương hiện hưởng hoặc số biên chế đã được giao trước đây.Mỗi vị trí việc làm gắn với một nhóm công việc tương đối ổn định, có sản phẩm và trách nhiệm rõ ràng; không hình thành vị trí việc làm riêng lẻ chỉ do công đoạn phối hợp, nhiệm vụ đột xuất hoặc sự khác biệt về ngạch, bậc cá nhân; tích hợp những vị trí có tính chất tương đồng và thực hiện cơ chế sử dụng chung nhân lực khi phù hợp.Một vị trí việc làm không đồng nghĩa với một cá nhân hoặc một chỉ tiêu biên chế; phân định rõ ba cấp độ: xác định vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và quyết định giao biên chế.Kế thừa hồ sơ, dữ liệu đã có, không xây dựng lại từ đầuKế thừa tối đa danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc, khung năng lực đã được phê duyệt và dữ liệu đã được xác nhận, báo cáo Trung ương theo các Công văn số 1972-CV/BTCTW, 2209-CV/BTCTW, 2342-CV/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương.Các cơ quan, đơn vị chỉ rà soát, đối chiếu, cập nhật, bổ sung nội dung có thay đổi, còn thiếu hoặc chưa kiểm chứng; không yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức kê khai lại những thông tin đã đầy đủ, chính xác; tránh lãng phí thời gian và nguồn lực.Dữ liệu phải có căn cứ, có kiểm chứngThống nhất kỳ thống kê khối lượng công việc là 12 tháng, tính từ ngày 1/10/2025 đến hết ngày 30/9/2026; thời điểm chốt số liệu nhân lực hiện có là ngày 30/9/2026. Mỗi bản ghi dữ liệu phải thể hiện rõ mã tham chiếu, nguồn gốc tài liệu, phạm vi nhiệm vụ, trạng thái kiểm chứng và người chịu trách nhiệm xác nhận; trường hợp chưa có mã chính thức thì sử dụng mã tạm theo quy tắc thống nhất của tỉnh.Cơ quan, bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ kiểm tra, xác nhận nhiệm vụ, sản phẩm, khối lượng và thời gian thực hiện; bộ phận tổ chức cán bộ kiểm tra, xác nhận vị trí việc làm, nhân lực và biên chế.Dữ liệu chưa được kiểm chứng phải ghi rõ và tuyệt đối không được sử dụng làm căn cứ để đề xuất tăng biên chế. Việc thu thập, kết nối, khai thác dữ liệu phải thực hiện đúng thẩm quyền, tuân thủ nghiêm ngặt quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác và an toàn thông tin cá nhân.Xác định nhu cầu nhân lực theo tính chất công việcÁp dụng phương pháp 1 (theo cơ cấu tổ chức, chức danh, định mức lao động); phương pháp 2 (theo khối lượng công việc và thời gian hao phí thực tế); phương pháp 3 (theo kết quả sản phẩm, độ phức tạp và trách nhiệm công việc).Tuyệt đối không áp dụng một danh mục, một định mức cứng nhắc, cào bằng cho mọi cơ quan, đơn vị, địa bàn; đối với công việc tham mưu chiến lược, nghiên cứu lý luận, thẩm tra, giám sát và phục vụ các cơ quan lãnh đạo phải tính đầy đủ đến yêu cầu tiến độ khẩn trương, trách nhiệm chính trị đối với sản phẩm, nhiệm vụ đột xuất phát sinh, các đợt công việc cao điểm và yêu cầu duy trì năng lực chuyên môn thường xuyên, không áp dụng cơ học định mức như việc giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính thông thường; không áp dụng máy móc định mức biên chế hoặc tỷ lệ tinh giản bình quân; chỉ tính toán tác động thực tế của chuyển đổi số, cơ chế tự chủ, thuê dịch vụ và xã hội hóa khi có đầy đủ bằng chứng, sản phẩm cụ thể chứng minh.Không tự động đề xuất tăng biên chế, quản lý chặt chẽ tổng thể biên chế của cơ quan, đơn vị, địa phươngKết quả xác định nhu cầu nhân lực không tự động quy đổi thành chỉ tiêu biên chế đề xuất tăng thêm; phải đối chiếu chặt chẽ nhu cầu với số người hiện có, biên chế được giao, cơ cấu ngạch, trình độ chuyên môn, năng lực thực tế, phân bổ nội bộ và khả năng cân đối nguồn kinh phí để xác định chính xác nơi thừa, nơi thiếu, nơi bố trí chưa phù hợp; không lấy chênh lệch số người hoặc biên chế hiện có làm căn cứ duy nhất để đề xuất điều chỉnh.Ưu tiên bố trí lại, điều chuyển, đào tạo, sàng lọc, kiêm nhiệm, sử dụng chung nhân lực và đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ; điều chuyển biên chế từ nơi giảm chức năng, nhiệm vụ, sử dụng biên chế chưa hiệu quả sang nơi thực sự cần thiết; trường hợp đề xuất tăng biên chế phải có căn cứ kiểm chứng, đúng thẩm quyền và bảo đảm kiểm soát tổng biên chế; phân loại rõ người đáp ứng ngay, người cần bồi dưỡng, người cần đào tạo lại hoặc bố trí công việc khác theo quy định.Kết quả rà soát không tự làm phát sinh quyền hưởng hoặc thay đổi tiền lương, phụ cấp khi chưa có quy định mới.Phân định rõ trách nhiệmPhân định rõ ràng nhiệm vụ theo trục dọc (Trung ương - tỉnh - xã) và trục ngang (giữa các cơ quan, đơn vị cùng cấp); xác định cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và người chịu trách nhiệm cuối cùng; khắc phục triệt để tình trạng giao thoa, chồng chéo, đùn đẩy, bỏ sót hoặc trùng lặp công việc.Làm rõ những nhiệm vụ đã phân cấp, phân quyền nhưng chưa đồng bộ về quy trình, thủ tục, thẩm quyền, nguồn lực thực hiện; gắn việc phân cấp, ủy quyền với năng lực thực thi, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, hậu kiểm.Phân định rành mạch giữa các công việc thuộc chức năng bắt buộc của khu vực công phải trực tiếp đảm nhiệm với các phần việc có thể thực hiện đặt hàng, đấu thầu, thuê dịch vụ bên ngoài, giao quyền tự chủ hoặc đẩy mạnh xã hội hóa.Các cơ quan cấp tỉnh phải kê khai đầy đủ, trung thực phần việc còn lại sau khi đã phân cấp về cơ sở (nhiệm vụ xây dựng cơ chế chính sách, hướng dẫn nghiệp vụ, thanh tra, kiểm tra và hậu kiểm).Triển khai đồng thời các nhiệm vụNơi đủ dữ liệu triển khai ngay; không chờ hoàn thiện toàn bộ hệ thống định mức, tiêu chuẩn, công cụ định lượng mới triển khai các nhiệm vụ cấp thiết trước mắt.Những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện về mặt phương pháp, định mức, tiêu chuẩn thì thực hiện theo lộ trình kế hoạch, tuyệt đối không để làm chậm tiến độ chung của toàn tỉnh.Những vấn đề phát sinh mới, vượt thẩm quyền hoặc chưa đủ căn cứ quy định phải kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, chỉ đạo, không được tự ý giải quyết sai quy định.baohatinh.vn🔗Xem link nguồn