7 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực bảo đảm an ninh hàng không

(Chinhphu.vn) - Bộ Công an đã ban hành Quyết định số 3177/QĐ-BCA về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực bảo đảm an ninh hàng không thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Công an; có hiệu lực thi hành kể từ ngày 5/5/2025.

7 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực bảo đảm an ninh hàng không- Ảnh 1.

Bảo đảm an ninh hàng không

Toàn văn Quyết định số 3177/QĐ-BCA.

Công bố kèm theo Quyết định này là 07 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực bảo đảm an ninh hàng không thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Công an (có danh mục, nội dung cụ thể của từng thủ tục hành chính và các biểu mẫu là thành phần hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính kèm theo).

Theo đó, các thủ tục hành chính do Cục Quản lý xuất nhập cảnh; Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh được giao chủ trì công tác bảo đảm an ninh hàng không tại cảng hàng không, sân bay thực hiện, gồm:

- Cấp mới thẻ kiểm soát an ninh cảng hàng không, sân bay có giá trị sử dụng dài hạn;

- Cấp lại thẻ kiểm soát an ninh cảng hàng không, sân bay có giá trị sử dụng dài hạn;

- Cấp thẻ kiểm soát an ninh cảng hàng không, sân bay có giá trị sử dụng ngắn hạn;

- Cấp mới giấy phép kiểm soát an ninh cảng hàng không, sân bay có giá trị sử dụng dài hạn;

- Cấp lại giấy phép kiểm soát an ninh cảng hàng không, sân bay có giá trị sử dụng dài hạn;

- Cấp giấy phép kiểm soát an ninh cảng hàng không, sân bay có giá trị sử dụng ngắn hạn.

Riêng thủ tục cấp giấy phép, gia hạn, bổ sung, phục hồi năng định nhân viên kiểm soát an ninh hàng không sẽ do Cục Quản lý xuất nhập cảnh thực hiện.

 

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Từ lợi thế giá rẻ đến sáng tạo: Việt Nam tìm "công thức" tăng trưởng mới

Tin trong nước 1 ngày trước

Việt Nam chính thức được xếp vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, với tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người đạt 4.970 USD năm 2025. Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam đứng trước yêu cầu phải thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng.Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam được Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thông qua xác định “đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược” để “hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước”.Từ lợi thế lao động giá rẻ và khai thác nguồn lực sẵn có, Việt Nam đang chuyển sang tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tìm “công thức” tăng trưởng mới (Ảnh minh họa: KT)Trọng tâm của mô hình mới là đổi mới quản trị quốc gia, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát huy sức mạnh con người, qua đó tạo động lực cho tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới; đến năm 2035 hoàn thành cơ bản quá trình chuyển sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; đến năm 2045 hoàn thành chuyển đổi sang mô hình này, với các mô hình thành phần vận hành đồng bộ, hài hòa, hiệu quả.Để đạt mục tiêu, 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp được đề ra, trong đó có nhiều hướng đi mới như xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển; phát triển kinh tế không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian ngầm; hoàn thiện các loại thị trường; cải cách sâu rộng hệ thống tài chính; đổi mới cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực quốc gia.Từ tăng trưởng dựa vào vốn, lao động sang tăng trưởng bằng năng suấtTheo GS. TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Quốc dân, sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, vị thế quốc tế không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, dư địa của các động lực truyền thống đang dần thu hẹp. Lợi thế lao động chi phí thấp không còn lớn như trước khi thu nhập bình quân tăng lên và quá trình già hóa dân số bắt đầu diễn ra. Hiệu quả sử dụng vốn cũng đứng trước yêu cầu phải được nâng cao.Trong bối cảnh đó, Việt Nam không thể tiếp tục chủ yếu dựa vào việc huy động thêm vốn, lao động hay khai thác các lợi thế sẵn có. Bài toán quan trọng hơn là tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực.GS. TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Quốc dân.“Đổi mới mô hình tăng trưởng thực chất là đổi mới cách thức nền kinh tế tạo ra giá trị, năng suất và năng lực cạnh tranh. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thì nay phải chuyển sang khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh”, GS.TS. Hoàng Văn Cường đánh giá.Theo ông, đây là quá trình chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu; từ gia công, lắp ráp sang sáng tạo, thiết kế và từng bước làm chủ công nghệ; từ lợi thế chi phí thấp sang lợi thế cạnh tranh bằng tri thức, công nghệ và năng suất.Để biến công nghệ thành động lực tăng trưởng, GS.TS. Hoàng Văn Cường cho rằng, cần khuyến khích doanh nghiệp tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới công nghệ, tự động hóa và số hóa quản trị; lựa chọn các ngành công nghệ chiến lược có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn.Cùng với đó là xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia với sự liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, các quỹ đầu tư và thị trường.AI cũng đang làm thay đổi thị trường lao động. Nhiều công việc mang tính lặp lại có thể được thay thế, buộc người lao động chuyển sang những công việc có giá trị cao hơn, đòi hỏi năng lực sáng tạo, quản trị và làm chủ công nghệ. Khi đó, AI và công nghệ số sẽ góp phần nâng năng suất lao động lên nhiều lần, tạo ra động lực tăng trưởng hoàn toàn mới.Cải cách thể chế để mở “không gian tăng trưởng” mớiCông nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ có thể phát huy khi có một môi trường đủ rộng để thử nghiệm và phát triển. Vì vậy, cải cách thể chế được các chuyên gia xem là khâu đột phá.Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước luôn xác định thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Doanh nghiệp hiện vẫn phải gánh chịu nhiều chi phí phát sinh từ sự chồng chéo của quy định pháp luật, thủ tục hành chính phức tạp và những chi phí giao dịch không cần thiết.“Mục tiêu giảm khoảng 30% chi phí tuân thủ pháp luật sẽ tạo thêm nguồn lực rất lớn cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao năng suất”, TS. Nguyễn Quốc Việt đánh giá.Cải cách thể chế cũng cần đi cùng thay đổi phương thức quản lý, từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Đây là điều kiện để cơ quan quản lý và doanh nghiệp có thêm không gian đổi mới trước sự xuất hiện của những mô hình kinh doanh mới.Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, AI và các ngành công nghệ mới đều cần một hệ thống thể chế linh hoạt hơn để tạo lập những “không gian tăng trưởng” mới. Nếu thể chế chậm đổi mới, chính nó sẽ trở thành lực cản đối với quá trình phát triển.Cùng với thể chế, hiệu quả phân bổ nguồn lực cũng quyết định chất lượng tăng trưởng. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, trong bối cảnh nguồn lực luôn có giới hạn, vấn đề không chỉ là huy động được nhiều vốn hơn mà phải phân bổ đúng vào những lĩnh vực có khả năng tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao nhất. Đây là điều kiện để nền kinh tế vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa bảo đảm hiệu quả đầu tư và ổn định kinh tế vĩ mô.Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, không nền kinh tế nào có thể bước lên nhóm dẫn đầu nếu tiếp tục dựa vào những lợi thế của quá khứ. Với Việt Nam, dư địa của mô hình cũ đang thu hẹp, trong khi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, AI và dữ liệu mở ra những không gian phát triển mới.Thách thức vì thế không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn, mà là đổi cách tạo ra tăng trưởng: từ dựa vào vốn và lao động sang nâng năng suất; từ gia công sang sáng tạo; từ khai thác lợi thế sẵn có sang tạo dựng lợi thế cạnh tranh bằng công nghệ, tri thức và con người. Đây là nền tảng để Việt Nam tạo ra động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.vov.vn🔗Xem link nguồn