Công chức được đánh giá theo thang điểm 100

Công chức sẽ được theo dõi, đánh giá hàng tháng hoặc quý với thang điểm 100, căn cứ phẩm chất, đạo đức, ý thức kỷ luật và số lượng, chất lượng, tiến độ công việc.

Chính phủ ngày 21/12 ban hành Nghị định 335 về đánh giá, xếp loại chất lượng với cơ quan hành chính nhà nước và công chức.

Nghị định quy định, công chức sẽ được theo dõi, đánh giá, xếp loại theo thang điểm 100, gồm tiêu chí chung (30 điểm) và kết quả công việc (70 điểm).

Trong đó, tiêu chí chung là phẩm chất chính trị, đạo đức, văn hóa thực thi công vụ, ý thức kỷ luật; tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân, doanh nghiệp, năng lực đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm.

Tiêu chí sản phẩm hoặc kết quả thực hiện nhiệm vụ được chấm tối đa 70 điểm, gồm số lượng, chất lượng, tiến độ.

Số lượng được xác định bằng tỷ lệ sản phẩm/công việc hoàn thành so với được giao trong tháng hoặc quý.

Chất lượng được xác định bằng tỷ lệ sản phẩm/công việc hoàn thành đạt yêu cầu về nội dung. Nếu có sai sót lớn về nội dung, công chức bị trừ 25% điểm chất lượng, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan.

Tiến độ được xác định bằng tỷ lệ sản phẩm/công việc hoàn thành đạt tiến độ so với được giao. Mỗi lần chậm tiến độ, công chức bị trừ 25% điểm của phần này.

Cán bộ giải quyết thủ tục hành chính cho người dân tại Trung tâm hành chính công phường Thủ Đức, TP HCM, tháng 7/2025. Ảnh: Quỳnh Trần
 

Công thức tính điểm kết quả công việc của công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý:


 

Trong đó, (a) là điểm phần trăm số lượng công việc; (b) là điểm chất lượng; (c) là điểm tiến độ hoàn thành công việc.

Công thức tính điểm kết quả công việc của công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý:


 

Trong đó, (a) là điểm số lượng; (b) là điểm kết quả; (c) là điểm tiến độ; (d) là điểm kết quả lĩnh vực được giao quản lý; (đ) là điểm khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ; (e) là điểm năng lực tập hợp, đoàn kết.

Nếu đơn vị có tất cả công chức xếp loại hoàn thành nhiệm vụ trở lên, công chức là lãnh đạo sẽ được tính 100% điểm số ở phần này; nếu có công chức dưới quyền không hoàn thành nhiệm vụ, được tính 50% số điểm.

Đơn vị hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ đúng thời hạn, chất lượng, có sáng kiến, công chức quản lý được tính 100% điểm ở phần này; nếu còn chậm trễ kéo dài, chỉ được tính 50% số điểm.

Đơn vị duy trì môi trường làm việc đoàn kết, công chức được tính 100% điểm số; có khiếu nại, kiến nghị, mất đoàn kết nội bộ kéo dài, chỉ được 50% điểm số.

Chính phủ quy định bốn mức xếp loại công chức, gồm: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (từ 90 điểm); hoàn thành tốt nhiệm vụ (70-90 điểm); hoàn thành nhiệm vụ (50-70 điểm); không hoàn thành nhiệm vụ (dưới 50 điểm).

Đồng thời, công chức bị đánh giá suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến; vi phạm những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; bị khiển trách trở lên; cơ quan thuộc thẩm quyền quản lý liên quan tham ô, tham nhũng, lãng phí, cũng bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ.

Nghị định có hiệu lực từ 1/1/2026.

Theo VNE

Link: https://vnexpress.net/cong-chuc-duoc-danh-gia-theo-thang-diem-100-4998413.html

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Xem nhiều nhất

Cùng với tăng lương, tiền thưởng của cán bộ, công chức thay đổi sao?

Tin trong nước 1 ngày trước

Dự thảo Nghị định quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang do Bộ Nội vụ xây dựng có 1 điều khoản quy định về chế độ tiền thưởng.Các yếu tố xét thưởng Theo đó, chế độ tiền thưởng được áp dụng trên cơ sở cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang có thành tích công tác đột xuất và kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm.Quỹ tiền thưởng được dùng để thưởng đột xuất theo thành tích công tác và thưởng định kỳ hằng năm theo kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành công việc của từng người hưởng lương trong cơ quan, đơn vị.Người đứng đầu đơn vị lực lượng vũ trang theo quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý hoặc được phân cấp thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm xây dựng Quy chế cụ thể để thực hiện chế độ tiền thưởng áp dụng đối với các đối tượng trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị.Đề xuất chế độ tiền thưởng với cán bộ, công chức.Quy chế này được gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để quản lý, kiểm tra và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị.Liên quan đến quy chế tiền thưởng của cơ quan, đơn vị, dự thảo nghị định nêu tiêu chí thưởng theo thành tích công tác đột xuất và theo kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của người hưởng lương trong cơ quan, đơn vị.Mức tiền thưởng cụ thể đối với từng trường hợp, không nhất thiết phải gắn với mức lương theo hệ số lương của từng người.Quỹ tiền thưởng hằng năm quy định nằm ngoài quỹ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng, được xác định bằng 10% tổng quỹ tiền lương (không bao gồm phụ cấp) theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc và cấp bậc quân hàm của các đối tượng trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị.Đến hết năm ngân sách, kể cả thời gian chỉnh lý quyết toán, nếu cơ quan, đơn vị không sử dụng hết quỹ tiền thưởng của năm thì huỷ dự toán (đối với trường hợp dư dự toán) hoặc nộp ngân sách nhà nước (đối với trường hợp dư tạm ứng).Như vậy, dự thảo nghị định đã sửa đổi, hoàn thiện quy định về xử lý số dư quỹ tiền thưởng cuối năm để đảm bảo nguyên tắc quỹ tiền thưởng năm nào gắn với việc thưởng thành tích năm đó và tránh phát sinh các cách hiểu khác nhau trong thực hiện.Nguồn kinh phí để tăng lươngLiên quan đến nguồn kinh phí thực hiện tăng lương cơ sở của các Bộ, cơ quan Trung ương, dự thảo nêu hướng sử dụng 10% tiết kiệm chi thường xuyên (trừ các khoản tiền lương, phụ cấp theo lương, khoản có tính chất lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) dự toán năm 2026 tăng thêm so với dự toán năm 2025 đã được cấp có thẩm quyền giao.Đồng thời, cũng sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2026 sau khi trừ các chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí. Riêng đối với số thu từ việc cung cấp các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, y tế dự phòng và dịch vụ y tế khác của cơ sở y tế công lập, các cơ quan sử dụng tối thiểu 35% sau khi trừ các chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí.Về nguồn kinh phí của các tỉnh, thành phố, địa phương sử dụng 70% tăng thu ngân sách địa phương năm 2025 thực hiện so với dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao (không kể thu tiền sử dụng đất; xổ số kiến thiết; thu cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý và các khoản được loại trừ theo Nghị quyết của Quốc hội, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ).Đồng thời, 50% tăng thu ngân sách địa phương dự toán các năm 2026, 2025, 2024 so với dự toán năm trước mà Thủ tướng Chính phủ giao cũng được huy động (không kể thu tiền sử dụng đất; xổ số kiến thiết; thu cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý và các khoản được loại trừ theo Nghị quyết của Quốc hội, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ).Theo dự thảo, địa phương được hướng dẫn sử dụng 10% tiết kiệm chi thường xuyên (trừ các khoản tiền lương, phụ cấp, đóng góp theo lương, các khoản có tính chất lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) dự toán năm 2026 đã được cấp có thẩm quyền giao, gồm: 10% dự toán chi thường xuyên năm 2023, 10% dự toán chi thường xuyên năm 2024 tăng thêm so với năm 2023, 10% dự toán chi thường xuyên tăng thêm năm 2025 so với năm 2024 và 10% dự toán chi thường xuyên tăng thêm năm 2026 so với năm 2025.Ngoài ra, cũng có thể sử dụng nguồn thực hiện cải cách tiền lương đến hết năm 2025 còn dư chuyển sang; Kinh phí ngân sách địa phương tiết kiệm chi hỗ trợ hoạt động thường xuyên (chi tiền lương, chi hoạt động theo quy định của pháp luật) do tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; Sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2026 sau khi trừ các chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí làm kinh phí thực hiện điều chỉnh tiền lương cơ sở.Dantri.vn🔗Xem link nguồn