Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng và vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của cuộc cách mạng này đã chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội cho đất nước.

 


 

1. Bối cảnh lịch sử

Cuối năm 1944, đầu năm 1945, cục diện thế giới thay đổi nhanh chóng. Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc với ưu thế áp đảo nghiêng về phe Đồng minh. Tại châu Âu, Hồng quân Liên Xô phối hợp với quân đội các nước Anh, Mỹ, Pháp, Canađa… liên tiếp giành thắng lợi, giải phóng nhiều quốc gia và tiến vào Béclin. Ngày 09/5/1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh ở châu Âu kết thúc. Tại châu Á - Thái Bình Dương, quân đội phát xít Nhật rơi vào thế bị bao vây, uy hiếp nặng nề. Ngày 08/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông, giải phóng vùng Đông Bắc Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Ngày 14/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai chính thức chấm dứt.

Tình hình ấy mở ra một bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Trung ương Đảng nhận định: đây là thời cơ “ngàn năm có một” để Nhân dân ta vùng lên giành lại độc lập. Trong khi quân Đồng minh chưa kịp vào Đông Dương làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, thực dân Pháp đã quay trở lại, tìm cách dựa vào Đồng minh, còn các thế lực khác cũng bắt đầu can thiệp; nếu không chớp lấy cơ hội này, vận hội dân tộc có thể bị bỏ lỡ.

Ngay từ ngày 09/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp khẩn, ra chủ trương phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước rộng khắp. Ngày 12/3/1945, Trung ương ban hành Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, khẳng định: “Đây là thời cơ tốt để Nhân dân ta vùng lên giành độc lập”.

Tháng 4/1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân. Ngày 16/4, Tổng bộ Việt Minh chỉ đạo thành lập các Ủy ban dân tộc giải phóng từ Trung ương đến địa phương. Đầu tháng 5/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo toàn quốc. Ngày 04/6/1945, Khu Giải phóng Việt Bắc chính thức được thành lập. Từ giữa năm 1945, cao trào kháng Nhật cứu nước lan rộng, phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần diễn ra mạnh mẽ tại nhiều địa phương trên cả nước.

2. Diễn biến

Khi thời cơ cách mạng đã chín muồi, ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và ngay trong ngày đã ra Quân lệnh số 1, phát động tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.

Ngày 16/8/1945, Quốc dân đại hội họp tại Tân Trào thông qua Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, phê chuẩn Lệnh tổng khởi nghĩa, thống nhất quốc kỳ nền đỏ sao vàng năm cánh, chọn “Tiến quân ca” làm quốc ca, và cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam (tức là Chính phủ Lâm thời cách mạng Việt Nam) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Cùng thời điểm đó, Người gửi thư kêu gọi toàn dân, nhấn mạnh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Từ ngày 14/8/1945, tại nhiều địa phương, các cấp bộ Đảng và Việt Minh đã chủ động phát động khởi nghĩa trước khi nhận được lệnh chính thức, căn cứ vào tình hình cụ thể và tinh thần Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra ở khắp nơi: từ các huyện, xã vùng đồng bằng Bắc Bộ đến các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa…

Chiều 16/8/1945, theo chỉ đạo của Ủy ban Khởi nghĩa, một đơn vị Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy xuất phát từ Tân Trào, tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên - mở màn cho chiến dịch quân sự hỗ trợ tổng khởi nghĩa. Cùng lúc, lực lượng vũ trang Chiến khu Trần Hưng Đạo phối hợp đánh chiếm các địa phương như Hải Ninh, Quảng Yên, Kiến An; ở miền Trung, lực lượng cách mạng tại Quảng Ngãi chiếm dinh tỉnh trưởng ngay trong đêm 16/8 - chính quyền tay sai sụp đổ.

Ngày 18/8/1945, các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam là những địa phương đầu tiên giành được chính quyền tại tỉnh lỵ - tạo khí thế bừng bừng khắp cả nước.

Tại Hà Nội, chiều 17/8/1945, hàng vạn quần chúng từ nội, ngoại thành tham gia mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn, rồi tuần hành qua các phố trung tâm, hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt Nam độc lập!”. Ngày 18/8/1945, cờ đỏ sao vàng rực rỡ trên nhiều tuyến phố chính. Đỉnh cao là ngày 19/8/1945: cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra với khí thế áp đảo. Các đội tự vệ chiến đấu và quần chúng cách mạng chiếm phủ Khâm sai Bắc Bộ, Sở Cảnh sát, Sở Bưu điện, Trại Bảo an binh…; chính quyền Bảo Đại - Trần Trọng Kim tan rã. Đêm 19/8/1945, chúng ta hoàn toàn làm chủ Thủ đô.

Ở Huế, ngày 20/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh được thành lập. Từ ngày 21/8/1945, hàng loạt cuộc biểu tình thị uy diễn ra, tạo thế áp đảo. Ngày 23/8/1945, hàng vạn người tiến vào thành phố, chiếm các công sở trọng yếu và giành chính quyền trong hòa bình.

Tại Sài Gòn - Gia Định, Xứ ủy Nam Kỳ ấn định ngày khởi nghĩa là 25/8/1945. Sáng hôm đó, các đoàn công nhân, nông dân, thanh niên từ Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho đổ về trung tâm thành phố. Quần chúng chiếm lĩnh Sở Mật thám, Sở Cảnh sát, Bưu điện, nhà ga, nhà máy điện… chính quyền bù nhìn nhanh chóng sụp đổ, chính quyền cách mạng được thiết lập.

Thắng lợi vang dội tại ba đô thị lớn: Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ. Từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đất liền đến hải đảo - phong trào khởi nghĩa dâng lên như vũ bão. Tại Côn Đảo - nơi từng được mệnh danh là “địa ngục trần gian”, nơi giam giữ hàng ngàn chiến sĩ cách mạng kiên trung - khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng và cuộc Tổng khởi nghĩa đang lan rộng trong cả nước, tổ chức Đảng trong nhà tù đã nhanh chóng họp bàn, tổ chức lực lượng, lãnh đạo tù nhân nổi dậy. Tại Phú Quốc, dưới sự lãnh đạo của tổ chức Việt Minh, tù chính trị cùng quần chúng nhân dân trên đảo cũng vùng lên lật đổ chính quyền thân Nhật, thiết lập chính quyền cách mạng. Ở nhiều đảo khác như Lý Sơn, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Hòn Gai, Vân Đồn… phong trào khởi nghĩa hưởng ứng Tổng khởi nghĩa Tháng Tám cũng diễn ra mạnh mẽ, đồng thời với các địa phương trên đất liền, thể hiện tinh thần yêu nước sục sôi, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng độc lập của toàn dân tộc. Các tổ chức Việt Minh, lực lượng tự vệ và quần chúng yêu nước đã nhanh chóng phát động các cuộc mít tinh, biểu tình, tước vũ khí của lính bảo an, chiếm các công sở và tuyên bố chính quyền về tay Nhân dân.

Tại Hà Tĩnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong tỉnh đã vượt qua khó khăn, tham gia vào công cuộc cứu quốc của dân tộc. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (ngày 09/3/1945), làn sóng cách mạng dâng cao trong toàn tỉnh. Các cơ sở Việt Minh được thành lập và phát triển ở nhiều nơi. Ngày 20/5/1945, được sự giúp đỡ của Xứ ủy Trung kỳ, Ban Vận động thành lập Việt Minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh ra đời, các nhóm Việt Minh ở các địa phương được tập hợp lại. Các đoàn thể cứu quốc được mở rộng.

Ngày 08/8/1945, trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình trong nước, Việt Minh liên tỉnh tổ chức Đại hội đại biểu để bàn kế hoạch chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Theo quyết định của Đại hội, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh được chia thành 6 phân khu để chuẩn bị tổ chức khởi nghĩa.

Ngày 13/8/1945, Hội nghị cán bộ Việt minh các huyện thuộc phân khu Nam Hà (Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh và thị xã Hà Tĩnh) họp thảo luận kế hoạch khởi nghĩa và thành lập ủy ban khởi nghĩa tỉnh. Ngày 15/8/1945, ủy ban khởi nghĩa liên tỉnh Nghệ Tĩnh ban hành lệnh khởi nghĩa.

Chỉ trong vòng 5 ngày, bắt đầu từ thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Can Lộc ngày 16/8 và kết thúc là cuộc khởi nghĩa ở Hương Khê vào ngày 21/8, Nhân dân Hà Tĩnh đã giành được chính quyền. Hà Tĩnh là một trong 4 tỉnh của cả nước giành được chính quyền sớm nhất trong Cách mạng Tháng Tám. Thắng lợi lịch sử này là kết tinh của truyền thống văn hóa cách mạng của các tầng lớp Nhân dân tỉnh nhà qua nhiều thời kỳ, mà trực tiếp là 15 năm đấu tranh đầy gian khổ hy sinh dưới sự lãnh đạo của Đảng; đóng góp quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945; mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử Hà Tĩnh với những thành tựu ngày càng toàn diện hơn.

Chỉ trong vòng 15 ngày, từ giữa đến cuối tháng 8 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi cả nước. Ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm.

Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố quyền độc lập, tự do, bình đẳng của dân tộc Việt Nam trước thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam, quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - đánh dấu sự mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc: kỷ nguyên độc lập, tự do và làm chủ vận mệnh đất nước.

3. Nguyên nhân thắng lợi

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là sự kết hợp chặt chẽ giữa thời cơ lịch sử thuận lợi với sự chuẩn bị công phu, bài bản và sự lãnh đạo sáng suốt, linh hoạt của Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Trước hết, thắng lợi đó bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn và kịp thời của Đảng. Đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân mà Đảng xác định phù hợp với nguyện vọng của đại đa số Nhân dân. Đảng đã thể hiện tầm nhìn chiến lược và năng lực tổ chức thực tiễn xuất sắc khi chỉ đạo toàn dân nổi dậy đúng thời điểm, nhanh chóng giành chính quyền trong cả nước với tinh thần: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Thứ hai, thắng lợi Cách mạng Tháng Tám là thành quả của quá trình chuẩn bị lâu dài, toàn diện về chính trị, tổ chức, tư tưởng và lực lượng vũ trang. Từ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, các cuộc vận động Dân chủ, Cao trào kháng Nhật cứu nước đến việc thành lập Mặt trận Việt Minh, tổ chức các đội vũ trang, xây dựng căn cứ địa, mở rộng lực lượng quần chúng… Đảng đã dày công chuẩn bị để sẵn sàng chớp lấy thời cơ. Việc chủ động phát động khởi nghĩa từng phần trước khi tổng khởi nghĩa cũng thể hiện sự nhạy bén và linh hoạt trong chỉ đạo cách mạng.

Thứ ba, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Nhân dân ta, dưới ngọn cờ đoàn kết của Mặt trận Việt Minh, đã nhất tề đứng dậy ở cả ba miền, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, từ đất liền đến hải đảo. Đây là biểu hiện sinh động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, yếu tố nội sinh mang tính quyết định đối với thắng lợi của cách mạng.

Thứ tư, thắng lợi Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự thất bại hoàn toàn của phát xít Đức và phát xít Nhật. Đảng ta đã đánh giá đúng thời cơ "ngàn năm có một" và phát động toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.

4. Ý nghĩa lịch sử

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta. Thắng lợi ấy đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm và lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị hàng thế kỷ ở nước ta, dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước do Nhân dân lao động làm chủ.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc: Kỷ nguyên độc lập - tự do; kỷ nguyên Nhân dân lao động nắm chính quyền, làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh dân tộc; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta trở thành một đảng cầm quyền, chuẩn bị những điều kiện tiên quyết cho những thắng lợi tiếp theo.

Cách mạng Tháng Tám không chỉ có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử Việt Nam mà còn mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc. Thắng lợi ấy đã cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa và các lực lượng bị áp bức trên thế giới đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội. Với thắng lợi đó, dân tộc Việt Nam không chỉ giành được độc lập mà còn khẳng định vị thế và con đường phát triển của mình trong dòng chảy của lịch sử thế giới hiện đại.

Xem nhiều nhất

Suy ngẫm về tư tưởng "lấy dân làm gốc" nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Bác Hồ

Thông tin tuyên truyền 1 ngày trước

Từ những ngày chuẩn bị giành chính quyền, Bác Hồ đã khẳng định chân lý "Nước lấy dân làm gốc". Với Bác, "gốc" chính là tài dân, lực lượng dân, của dân, lòng dân, quyền dân. Người căn dặn: "Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" (1). Tư tưởng ấy được Bác cụ thể hóa bằng những luận điểm giản dị mà thấm thía: "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân...Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân (2).Đặc biệt, Bác luôn coi trọng chính quyền cơ sở - cấp gần dân nhất. Bác yêu cầu tổ chức chính quyền phải gọn nhẹ, rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo và mỗi cán bộ thực sự là "công bộc của dân". Người chỉ rõ tinh, gọn bộ máy là nhằm xây dựng cơ quan nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả, mang lại lợi ích cho đất nước; tránh rườm rà, cồng kềnh, thực hiện chủ trương nhanh, gọn và tiện lợi; góp phần giảm bớt chi phí ngân sách và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân.Bác yêu cầu: "…tổ chức còn kềnh càng, thừa người, phải sắp xếp cho gọn gàng, hợp lý…" (3); "Về biên chế - từ các bộ, các ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và càng ngày càng phình ra. Vì vậy mà sinh ra quan liêu, lãng phí" (4). Người phê phán tình trạng bộ máy cồng kềnh, quan liêu, xa rời thực tiễn, coi đó là một trong những nguyên nhân làm giảm sút hiệu quả quản lý và ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân.Những lời dạy của Bác mãi mãi là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân làm trung tâm. Việc chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hiện thực hóa tư tưởng "gần dân, sát dân" của Bác, đồng thời thể hiện rõ tư duy đổi mới trong quản trị xã hội của Đảng, Nhà nước.Sau gần một năm vận hành, mô hình chính quyền địa phương hai cấp bước đầu phát huy hiệu quả, mang lại những thay đổi rõ nét trong phương thức phục vụ nhân dân. Chính quyền cấp xã không còn là "mắt xích thụ động" trong guồng máy hành chính mà vươn mình thành thực thể tự chủ: tự quyết, tự làm, tự chịu trách nhiệm, chủ động kiến tạo và phục vụ nhân dân ngay từ gốc.Người dân giờ đây không còn phải "chạy sở, đợi huyện". Mô hình "Một cửa, một lần, không trung gian" đã xóa nhòa những quãng đường xa, cắt bớt những ngày chờ đợi. Nền tảng số hóa như cánh tay nối dài, hồ sơ trực tuyến, thanh toán không tiền mặt, làm thủ tục mọi lúc mọi nơi.Có nơi, cán bộ đến tận nhà trả kết quả (mô hình "hai phục vụ" tại xã đảo Minh Châu - Hà Nội) (5); mô hình "Ngày thứ Bảy hành chính lưu động" tại Quảng Ngãi, cán bộ vào tận bản làng vùng sâu để tiếp nhận thủ tục hành chính, hướng dẫn bà con (6). Hình ảnh người cán bộ tận tụy đến từng nhà, từng bản chính là sự cụ thể hóa sinh động nhất lời Bác dạy "Việc lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc hại đến dân, ta phải hết sức tránh".Tại phường An Hải (Hải Phòng), người dân có thể đến bất cứ đơn vị hành chính nào trên địa bàn để giải quyết thủ tục (7); tại phường Hạc Thành (Thanh Hóa), phần lớn hồ sơ được giải quyết trước hạn. Ở Nghệ An (xã Sơn Lâm), ngày trước chuyển nhượng đất cho con phải chạy xe 20km lên huyện, nay chỉ còn chưa đầy 20 phút tại trụ sở xã (8).Tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp về dịch vụ công, thủ tục hành chính tăng lên rõ rệt. Tại Hà Nội tỷ lệ này đạt gần 99% (9), Khánh Hòa 88,24% (10), Hải Phòng 90% hồ sơ trước hạn. Đặc biệt, tại Đặc khu Phú Quý (Lâm Đồng) có tới 99,94% hồ sơ giải quyết đúng hạn. Tại Đà Nẵng, kết quả khảo sát ghi nhận hoạt động Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã hiệu quả, đáp ứng đúng mục tiêu, yêu cầu (11). Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh/thành khác đang tổ chức thăm dò dư luận đối với hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương hai cấp (12).Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi còn gặp những khó khăn, vướng mắc nhất định. Áp lực công việc của cán bộ, công chức cấp xã tăng lên đáng kể. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở nhiều nơi vừa thừa vừa thiếu. Nhiều cán bộ không có chuyên môn sâu ở các lĩnh vực được phân công, đặc biệt thiếu cán bộ có chuyên môn về công nghệ thông tin, chuyển đổi số.Hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ. Một số lĩnh vực chưa có quy trình, thủ tục được ban hành kịp thời. Một bộ phận cán bộ còn lúng túng, làm việc cầm chừng. Chế độ phụ cấp chưa theo kịp, ảnh hưởng nhất định đến tâm tư và sự gắn bó lâu dài của đội ngũ cán bộ cơ sở.Để lời Bác dạy thấm sâu hơn nữa, thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền một cách rõ ràng - rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cấp xã, coi đây là khâu đột phá. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, giúp giảm thời gian và chi phí, đồng thời tăng tính minh bạch, chống tiêu cực.Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở, bởi như Bác đã dạy: "Dân chúng trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh, có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn... Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân" (13).Cùng với đó, cần tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân theo chuẩn mực "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" - đó chính là nền tảng vững chắc để cán bộ cơ sở vượt qua áp lực.Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, chúng ta không chỉ dâng lên Người những lời ca, những bông hoa tươi thắm, mà còn dâng lên những thành quả cách hành chính - một nền hành chính thực sự của dân, do dân và vì dân. Và quan trọng hơn cả, đó là một thông điệp xuyên suốt: Cải cách bộ máy không phải đích đến mà chỉ là phương tiện để phục vụ nhân dân, để dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ghi chú:1 Nguyễn Thanh Tú (2026), Tư tưởng lấy dân làm gốc của Bác Hồ soi sáng hôm nay, https://www.hcmcpv.org.vn, ngày 10/2/2026.2 Bùi Đình Phong (2020), Tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” soi sáng công tác dân vận hiện nay, https://hochiminh.vn, ngày 13/10/2020.3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.432.4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 13, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.314.5 Báo Hà Nội online (2026), Hà Nội triển khai chính quyền hai cấp gần dân, minh bạch, hiệu quả, https://hanoionline.vn, tháng 11/2025.6 Chu Thanh Vân (2026), Tiếp tục gỡ nút thắt để chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động thông suốt, https://www.vietnamplus.vn, ngày 3/5/2026.7,8 Báo Nhân Dân điện tử (2026), Chính quyền địa phương hai cấp: Bước chuyểnđể phục vụ người dân tốt hơn, https://special.nhandan.vn, Truy cập ngày 7/5/2026.9 Huy Kiên, Lê Hải (2026), Nâng cao chất lượng cải cách hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp, https://hanoi.gov.vn, ngày 7/4/2026.10 Nguyễn Vũ (2026), Cải thiện SIPAS, hướng tới “rất hài lòng”, https://baokhanhhoa.vn, ngày 4/5/2026.11 Hàn Giang (2026), Một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp: Nhìn từ hiệu quả cung cấp dịch vụ hành chính công, https://baodanang.vn, ngày 7/5/2026.12 Tiến Long (2026), TP.HCM lấy ý kiến người dân về hiệu quả vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, https://tuoitre.vn, ngày 6/5/2026.13 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb.CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.668.vov.vn🔗Xem link nguồn